Có người mắc bệnh tâm phúc mãn, sớm ăn thời
chiều không thể ăn... Bệnh đó tên là gì? [1]
Kỳ Bá thưa rằng:
Bệnh đó tên là Cổ trướng [2].
Hoàng Đế hỏi:
Điều trị thế nào? [3]
Kỳ Bá đáp:
Dùng kê thỉ lễ. Một liều bớt, hai liều
khỏi.
Hoàng Đế hỏi:
Có khi lại phục phát là vì sao? [4]
Đó là do sự uống ăn không giữ gìn, nên mới gây
nên sự “ngã lại” như vậy [5].
Hoàng Đế hỏi:
Có người mắc chứng “đầy ách” ở Hung Hiếp và chi
lạc, không ăn được. Mỗi khi bệnh sắp phát, thời như ngửi thấy mùi tanh hôi nước
mũi chẩy ra, nhổ ra huyết, tứ chi lạnh, mắt hoa, thường thường đại, tiểu tiện
cũng ra huyết... Đó là bệnh gì? Vì sao mà mắc phải? [6]
Kỳ Bá thưa rằng:
Bệnh đó gọi là huyết khô. Nguyên nhân do lúc ít
tuổi, có sự gì thoát mất nhiều huyết, hoặc nhân lúc say rượi mà nhập phòng,
trung khí kiệt. Can thương, ở con gái thời nguyệt cự không xuống được
[7].
Điều trị dùng phương pháp nào? làm sao để phục
hồi? [8]
Dùng bốn phần Ô tặc cốt, một phần Lự nhự. Hai
vị hợp lại dùng Trứng chim sẻ luyện làm hoàn, viên bằng hạt đỗ nhỏ. Mỗi lần dùng
5 viên sau khi ăn cơm, tiêu với nước Bào ngư... Thuốc đ làm cho lợi trường. Can
bị tổn thương [9].
Hoàng Đế hỏi:
Có người mắc chứng thiếu phúc to phình lên, trên
dưới tả hữu như có rễ. Đó là bệnh gì? [10]
Kỳ Bá thưa rằng:
Bệnh đó tên là Phục lương [11].
Vì sao mắc chứng ấy? Phục lương do đâu mà có?
[12]
Có một túi bọc máu và mủ đặc ở ngoài Trường
Vị... Rất khó chữa. Mỗi khi án mạnh tay vào chỗ đó, thời đau điếng muốn chết
[13].
Vì sao mắc bệnh ấy [14].
Đó vì: ở dưới thời liền với Tam âm, tất có lúc
cũng “hạ” ra đôi ít nùng huyết, ở trên thời với Vị quản, tất có mọc “Ung” ở
trong Vị quản... Tất phải trả qua lâu ngày lắm mới gây nên bệnh ấy. Rất khó chữa
[15]. Nếu ở phía trên rốn là nghịch, ở phía dưới rốn là thuận [15]. Đừng động
đến. Về phép điều trị, đã bàn rõ ở thiên Thích pháp [17].
Hoàng Đế hỏi:
Có người suốt cả thân thể, đùi, vế, chân đều
thống, lại đau ở xung quanh rốn... Là bệnh gì? [18]
Kỳ Bá thưa rằng:
Bệnh đó cũng gọi là Phục Lương, tức là phong
căn, (gốc của chứng phong [19]. Cái khí phong tà, tràn ra ở Đại trường, mà bám
vào Hoang [20]. Mà cái gốc của Hoang lại ở dưới rốn, nên mới đau ở xung quanh
rốn [21]. Không nên vọng động vào nóù. Nếu động vào nóù sẽ gây nên thủy sáp
(tiểu tiện buốt, nhỏ giọt, không ra được) [22].
Hoàng Đế hỏi:
Phu tử thường nóùi chứng nhiệt trung, Tiêu
trung không nên dùng các thứ cao lương, phương thảo, Thạch dược... Nếu dùng
thạch dược sẽ phát điên, dùng phương thảo sẽ phát cuồng... [23] Nghĩ như chứng
nhiệt trung, tiêu trung, phần nhiều chỉ hạng người phú quý hay mắc. Giờ dùng
thức cao lương, thế là không hợp với lòng họ, cấm dùng phương thảo thạch dược
thì bệnh không sao khỏi được. Vậy xin cho biết phải liệu trị thế nào bệnh đó
[24].
Kỳ Bá thưa rằng:
Cái khí của phương thảo tốt, cái khí của thạch
dược hãn (dữ tợn, độc). Hai thứ khí ấy đều có cái tính “cấp, tật, kiện, kính...”
Cho nên, nếu không phải là người có tâm tính hòa hoãn không uống được nóù [24].
Phàm nhiệt khí thời lật hãn (dữ tợn), khí cũng vậy, hai thứ ấy gặp nhau sẽ gây
nên sự xung đột, e làm nóùäi thương đến Tỳ. Tỳ thuộc thổ mà ghét mộc. Nếu uống
thứ thuốc ấy, đến ngày Giáp Aát sẽ nguy [25].
Hoàng Đế hỏi:
Có người mắc chứng: Ung thũng, cảnh thống. Hung
mãn phúc trướng. Đó là bệnh gì? Vì cớ sao mắc phải? [26]
Kỳ Bá thưa rằng:
Đó là bệnh quyết nghịch [27].
Điều trị thế nào? [28]
Nếu dùng phép Cứu thời Aám (câm không nóùi
được), dùng phép thích thời phát cuồng... Đợi đến lúc huyết khí cùng hợp lại với
nhau, mới có thể chữa. Vì sao? Dương khí đã bốc nhiều lên trên, tức là ở trên
hữu dư, nếu cứu thời dương, khí sẽ thụt vào âm, vào âm thời thành ấm, nếu thích
thời dương khí hư, hư thời sẽ phát cuồng. Vậy phải đợi lúc huyết khí cùng hợp
với nhau sẽ chữa, mới mong toàn vẹn được [29].
Hoàng Đế hỏi:
Sao có thể biết đàn bà có thai? [30]
Kỳ Bá thưa rằng:
Vì là người bệnh (như nóùân ọe, mỏi mệt, không
muốn ăn v.v...), mà chẩn mạch thời mạch không có bệnh [31].
Hoàng Đế hỏi:
Người mắc bệnh nhiệt, mà có đau là vì sao?
[32]
33) Kỳ Bá thưa rằng:
Bệnh nhiệt đó thuộc về Dương mạch. Do khi của
Tam dương động. Nhân một thịnh thuộc Thiếu dương, hai thịnh thuộc Thái dương, ba
thịnh thuộc Dương minh, rồi mới vào các kinh Aâm. Vì Dương lấn vào Aâm, nên mới
mắc bệnh ở đầu với phúc. Do đó mới sinh ra sân trướng và đầu thống
[33].
Hoàng Đế khen phải.
Thiên bốn mươi mốt: THÍCH YÊU THỐNG
Túc Thái dương mạch, khiến người yêu thống (đau
ngang chỗ thắt lưng), đau rút suốt xương sống lên cổ, dưới xuống tới xương
khu... Lưng như mang vật gì nặng. Thích Uûy trung thuộc chính kinh Thác dương
cho ra huyết. Mùa xuân đừng để thấy huyết [1].
Mạch kinh Thiếu dương khiến người yêu thống,
như người lấy kim đâm vào trong da, không thể cúi ngửa, không thể ngảnh đi ngảnh
lại... Thích vào đầu thành cốt thuộc kinh Thiếâu dương cho ra huyết. Thành cốt ở
tại đầu gối, phía ngoài bên cạnh xương bánh chè, (hình ngoại khâu). Mùa hạ đừng
để cho thấy huyết [2].
Mạch kinh Dương minh, khiến người yêu thống
không thể ngảnh đi ngảnh lại... Nếu ngảnh lại hoảng hốt như trông thấy gì lạ…
Thích ba nóùát tại trước ống chân thuộc Kinh Dương minh, để cho trên dưới đều
hòa và ra huyết. Mùa Thu đừng để cho thấy huyết [3].
Mạch kinh Túc Thiếu Aâm khiến người yếu thống,
đau suốt xương sống và cổ “nóùäi liêm”. Thích hai nóùát tại phía trong xương
thuộc kinh Thiếu Aâm. Mùa Xuân đừng để cho thấy huyết. Nếu ra huyết quá nhiều
sẽ khó hồi phục. Phục lưu [4].
Mạch kinh quyết âm khiến người yêu thống, trong
“yêu” cứng đờ như giương dây cung nóùû... thích ở mạch quyết âm, lãi câu mạch đó
ở sâu trong bọng chân, rờ tay vào thấy chỗ nào xúc xỉu tức là mạch, sẽ thích.
Bệnh này khiến người hay nóùi, nhưng lại nóùi dớ dẩn. Nên thích ba nóùát
[5].
Bệnh ở giải mạch khiến người yêu thống, đau rút
lên vai, mắt trong mập mờ, thỉnh thoải lại di niệu. Thích giải mạch tại chỗ bên
ngoài khe khớp xương đầu gối, thích hoàng mạch ở đó cho ra huyết, mủ trung thấy
sắc huyết đổi sắc thì thôi. Bệnh ở giải mạch khiến người yêu thống như buộc chắc
dây lưng thường như muốn gãy, lại hay sợ. Mạch này tại ủy trung, có kết lạc
nóùåi lên như hạt gạo, thích vào đấy sẽ bắn máu ra. Thấy máu biến sắc đen thì
khỏi [7].
Bệnh tại mạch Đồng âm, khiến người yêu thống
tái yêu nóùåi lên như cái dùi nhỏ. Thích mạch Đồng âm, tại đầu Dương phụ, Tuyệt
cốt phía trên mắt cá ngoài [7].
Bệnh ở Dương Duy khiến người yêu thống đau mà
nóùåi cồn lên như thũng. Mạch này cùng với mạch Thái dương hợp, cách xương khoai
7 tấc, các đất một thước [8].
Bệnh ở mạch Hành lạc, khiến người yêu thống,
không thể cúi ngửa. Nếu ngửa lên thời như muốn ngã. Bệnh này gây nên bởi mang
vật nặng làm thương đến yêu, ác huyết tụ lại đó. Thích ở khoảng gần Khích dương
hai nóùát cho ra huyết [9].
Bệnh ở mạch Hội âm, khiến cho người yêu thống,
lúc đau mồ hôi ra đằm đìa, tới khi mồ hôi ráo đi, khiến người khát muốn uống
nước, lúc uống nước rồi lại muốn chạy. Thích mạch trước dương. Thích trên mạch
trực dương ba nóùát. Mạch này tại trên Kiểu dưới Khích 5 tấc, nóù nằm ngang.
Thấy mạch đó thịnh, phải để cho xuất huyết [10].
Bệnh ở mạch Phi dương khiến người yêu thống, lúc
đau tê tái rầu rĩ, quá lắm thời kiêm cả bi và khủng. Thích mạch Phi dương tại
phía trong xương khoai 5 tấc, trước mạch Thiếu ấm, cùng hội với mạch Aâm duy
[11].
Bệnh ở mạch Xương dương khiến người yêu thống,
đau rút sang lồng ngực, quá lắm, lưng như gãy, mắt trong lòe loẹt, lưỡi cong lại
không thể nóùi, thích hai nóùát ở Nóùäi Cân, huyệt tại trước Giao tín, Đại cân
phía trên xương khoai, và dưới xương khoai sau huyệt Thái âm hai tấc
[12].
Bệnh ở Tán mạch khiến người yêu thống mà nhiệt,
Nhiệt quá sinh phiền. Trong yêu như có mảnh gỗ chắn ngang, quá lắm thời di niệu.
Thích Tán mạch tại khe thịt trước xương gối, tức là Thúc mạch. Thích ba nóùát
[13].
Bệnh ở mạch Nhục lý khiến người yêu thống đau
không thể ho, ho thời gân rút gấp. Thích hai nóùát ở mạch Nhục lý huyệt tại
Dương phụ bên ngoài huyệt Thái dương và phía sau Tuyệt cốt thuộc Thái dương
[14].
Yêu thống suốt lên xương sống, đau đến nóùãi cổ
chỉ hơi ngọ ngoạy được, mắt trong lòe loẹt, như muốn ngã. Thích ở huyệt Khích
trung thuộc Thái dương cho ra huyết. Uûy trung [15].
Yêu thống mà bộ phận trên hàn, thích ở huyệt
Thái dương, Dương minh. Bộ phận trên nhiệt, thích ở huyệt Túc quyết âm đau không
thể cúi ngửa, thích ở huyệt Thiếâu dương, bên trong nóùng mà suyễn, thích ở
huyệt Thiếu âm, và thích ở huyệt ủy trung cho ra huyết [16].
Yêu thống mà bộ phận trên hàn, đến không thể
ngảnh đi, Aâm thụ ngảnh lại, thích ở huyệt Túc Dương minh, nếu bộ phận trên
nhiệt, thích ở huyệt Túc Thái âm, nếu trung nhiệt mà suyễn, thích ở huyệt Túc
thiếu âm [17].
Đại tiện khí, thích ở huyệt Túc quyết âm
[18].
Thiếu phúc mãn, thích ở huyệt Túc quyết âm
[19].
Đau nhữ gẫy, không thể cúi ngửa, không thể cử
động, thích huyệt Túc Thái dương [20].
Đau rít lên trong đường xương sống, thích ở
huyệt Túc Thiếu âm [21].
Yêu thống rút xuống Thiếu phúc, không thể ngửa,
thích ở huyệt yêu cầu giao hai bên, lấy số ngày “sinh tử” của mặt trăng để định
nóùát thích (1), rút châm, khỏi ngay. Đau bên tả, thích bên hữu, đau bên hữu
thích bên tả [22]
Thiên bốn mươi hai: PHONG LUẬN
Hoàng Đế hỏi:
Phong nó làm thương người, hoặc phát chứng hàn
nhiệt, hoặc là chứng nhiệt trung, hoặc là chứng hàn trung, hoặc là lệ phong,
hoặc là thiên khô, hoặc là phong... Bệnh đã khác nhau, danh cũng không giống,
hoặc phạm tới cả năm Tàng sáu Phủ... Không hiểu nguyên nhân ra sao, xin cho biết
rõ [1].
Kỳ Bá thưa rằng:
Phong khí tàng ở khoảng bì phu, trong không thể
thông, ngoài không thể tiết... Nó “dẫn đi rất chóng mà biến đổi luôn” làm tấu lý
mở rỗng, thời ghê rợn mà rét, làm tấu lý vít lấp, thời nhiệt mà khó chịu [2]. Nó
hàn thời uống ăn kém sút, nó nhiệt thời cơ nhục hao mòn [3]. Nếu làm cho người
bợt bạt mà không ăn được thời gọi là Hàn nhiệt [4].
Phong khí với khí của Dương minh dồn vào Vị, đi
vòng lên đến phía đầu mắt, nếu là người béo, thời phong khí không tiết ra ngoài
được, sẽ gây nên chứng Nhiệt trung mà mắt vàng, nếu là người gầy, thời tiết ra
ngoài mà hàn, sẽ gây nên chứng hàn trung và chảy cả nước mắt, nước mũi
[5].
Phong khí cùng vào với khí của Thái dương, dẫn
đi ở mạch du, giải rắc ra ở khoảng phận nhục, cùng xung đột với Vệ khí, khiến
cho mạch đạo không thông lợi, gây nên chứng cơ nhục sùi sưng thành mụn lở. Vệ
khí có chỗ không dẫn hành được, sẽ gây nên chứng bất nhân [6].
Về Lệ phong, do vinh khí nhiệt tụ ở cơ nhục,
khiến khí không trong mát, gây nên chứng dọc mũi loét nát mà sắc bại, bì phù lở
nát. Phong hàn ký tục ở mạch mà không dẫn đi ngược, gọi là Lệ phong, hoặc lại
gọi là “hàn, nhiệt” [7].
Tiết lập xuân, ngày Giáp, Aát, bị thương vì
Phong, gọi là Can phong, mùa Hạ, Bính, Đinh bị thương vì phong, gọi là Tâm
phong, mùa qúi hạ, Mậu, Kỷ bị thương vì phong, gọi là Tỳ phong, mùa Thu, Canh
Tân bị trúng về tà, gọi là Thận phong [8].
Phong trúng Du huyệt của năm Tàng sáu Phủ, cũng
gọi là phong của Tàng, Phủ [9].
Nếu trúng vào cửa ngõ của khí huyết, thời gọi
là Thiên phong [10].
Phong khí theo phong phủ mà dẫn lên, gọi là Não
phong [11].
Phong khí phạm vào đầu hệ, thời gây nên chứng
mục phong, nhãn hàn [12].
Uống rượu mà trúng phong, thời là Lậu phong
[13].
Nhập phòng, hãn ra mà trúng phong, thời là Nóäi
phong [14].
Mới gội đầu mà trúng phong, thời là Thủ phong
[15].
Phong phạm vào bộ phận trong đã lâu ngày, thời
tà chứng Trường phong, Xôn tiết [16].
Phong lưu ở ngoài Tấu lý, thời là Tiết phong...
[17]
Cho nên “phong là trưởng của trăm bệnh”. Đến
khi nó biến hóa để gây nên chứng bệnh khác thời không có phương hướng nhất
định... Nhưng tóm lại thời lúc nào cũng do “phong khí” mà gây nên
[18].
Hoàng Đế hỏi:
Năm Tàng bị phong, chứng trạng khác nhau thế
nào, và xin cho biết phép chẩn với bệnh nặng (sự biến chuyển của bệnh...)
[19]
Kỳ Bá thưa rằng:
Chứng trạng của Phế phong, nhiều hãn mà ố phong,
thỉnh thoảng ho, hơi thở ngắn, ban ngày nhẹ, về đêm nặng. Chẩn ở phía trên lông
mày, sắc trắng bợt [20].
Chứng trạng của Tâm phong nhiều hãn mà ố phong
môi khô rộp, hay giận giữ. Bệnh nặng thời nói ra khó khăn. Chẩn ở miệng, sắc đỏ
[21].
Chứng trạng của Can phong nhiều hãn mà ố phong,
hay bị (buồn, thương), họng khô, hay giận, có ý như ghét đàn bà. Chẩn ở dưới
mắt, sắc mặt tái xanh [22].
Chứng trạng của Tỳ phong, nhiều hãn mà ố phong,
thân thể mỏi mệt, tứ chi không muốn cử động, không muốn ăn, chẩn ở trên mũi, sắc
vàng [23].
Chứng trạng của Thận phong, nhiều hãn mà ố
phong, mặt phù thũng, xương sống đau không đứng thẳng được, trong lòng có sự như
không được toại ý. Chẩn ở ngoài da, sắc sạm đen [24].
Chứng trạng của Vị phong, cổ nhiều hãn mà ố
phong, uống ăn khó khăn, như có vướng mắc nuốt không trôi, phúc bộ hay đầy, nếu
không đắp bụng thời hay trướng, ăn thức hàn thời sinh tiết tả. Chẩn thấy thân
thể gầy mà bụng to [25].
Chứng trạng của Thủ phong, đầu và mặt nhiều hãn
mà ố phong. Trước chứng phong phát sinh một ngày thời bệnh nặng, đầu nhức đến
nóãi không thể bước ra ngoài, đến ngày phong phát, thời bệnh lại hơi bớt
[26].
Chứng trạng của Lậu phong, có nhiều hãn, thường
không dám mặc áo đơn, đến bữa ăn thời hãn ra, có khí hãn nhiều mà thở suyễn, ghê
gió, áo thường ẩm ướt vì hãn, miệng khô và khát, không làm được công việc nhọc
mệt [27].
Chứng trạng của tiết phong, nhiều hãn, hãn ra
ướt cả áo, trong miệng khô, không làm được việc nặng nhọc, toàn thân đều đau và
rét...(Rét vì ra hãn nhiều, thành vong dương) [28].
Thiên bốn mươi ba: TÝ LUẬN
Hoàng Đế hỏi:
Bệnh Tý (tê, đau) vì đâu sinh ra? [1]
Kỳ Bá thưa rằng:
Ba khí “phong, hàn, thấp” lẫn lộn dồn đến, hợp
lại thành chứng Tý. Trong ba khí đó, nếu phong khí thắng thời là Hàn Tý, hàn khí
thắng thời là Thống tý, Thấp khí thắng thời là Chước tý [2].
Hoàng Đế hỏi:
Tôi nghe lại có năm chứng Tý, là vì sao?
[3]
Kỳ Bá thưa rằng: Mắc bệnh về mùa Đông, là Cốt
tý, mắc bệnh về mùa Xuân gọi là Cân tý, mắc bệnh về mùa hạ gọi là Mạch tý, mắc
bệnh vào thời điểm Chí âm gọi là Cơ tý, mắc bệnh về mùa Thu gọi là Bò tý
[4].
Hoàng Đế hỏi:
Có khí ở bên trong, ký túc vào năm Tàng, vậy khí
nào làm nên thế? [5]
Kỳ Bá thưa rằng:
Năm Tàng đều có “Hợp” bệnh mắc lâu không giải đi
được, sẽ ký túc vào nơi “hợp” đó. Cho nên, nếu Cốt tý không dứt, lại cảm với tà,
nó sẽ ký túc tại Thận, Cân tý không dứt, lại cảm với tà, nó sẽ ký túc tại Can,
Mạch tý không dứt, lại cảm với tà, nó sẽ ký túc tại Tâm, Cơ tý không dứt, lại
cảm với tà, nó sẽ ký túc tại Tỳ, Bì tý không dứt, lại cảm với tà, nó sẽ ký túc
tại Phế... [6] Vậy, phàm chứng Tý, đều theo về từng mùa, rồi lại cảm thêm với
khi phong, hàn, thấp... mà gây nên [7].
Phàm chứng Tý ký túc ở năm tàng, sinh ra các
chứng trạng sau này: [8]
Phế tý thời phiền mãn, suyễn mà ẩu (ọe)
[9].
Tâm tý thời huyết mạch không thông, vì tà bách
dưới Tâm, dồn mạnh phạm lên Tâm tàng, nên phiền, lại thêm chứng thượng khi mà
suyễn, cuống họng khô, hay ợ, quyết khí ngược lên nên hay khủng [10].
Can Tý, đêm nằm hay giật mình, uống nước nhiều,
tiểu tiện luôn, trong bụng anh ách, như đàn bà có thai [11].
Thận tý hay trướng, xương khu dồ lên, xương sống
gù xuống [12].
Tỳ tý thời tứ chi mỏi mệt rã rời, hay lo, nóân
ra nước dãi, trên Hung bị nghẽn [13].
Trường tý, uống nước luôn mà không tiểu tiện ra
được, trung khí suyễn cấp, thỉnh thoảng lại thành chứng xôn tiết
[14].
Bào tý thời thuộc bộ phận Thiếu phúc và Bàng
quang, án mạnh tay, thấy đau ở bên trong như dội nước nóng vào, tiểu tiện lại
ít, và hay chảy nước mũi trong [15].
Phàm âm khí (tức tàng khí) tĩnh thời tàng thần,
táo thời tiêu vong, nếu uống ăn quá độ. Trường Vị sẽ bị thương (nếu bị thương,
tà khí sẽ thừa cơ phạm vào mà gây nên chứng tý) [16].
Nếu thấy suyễn tức quá độ, thời biết chứng Tý tụ
ở Phế, thấy ưu tư quá độ, thời biết chứng Tý tụ ở Tâm, thấy sự di niệu luôn
luôn, thời biết chứng Tý tụ ở Thận, thấy sự mỏi mệt quá độ, thời biết chứng Tý
tụ ở Can, thấy da dẻ khô khan xãm xĩnh, thời biết Tý tụ ở Tỳ [17]. Phàm chứng Tý
không khỏi, sẽ càng ngày càng nặng thêm. Duy có chứng thuộc về “phong khí thắng”
thời dễ khỏi hơn [18].
Hoàng Đế hỏi:
Về chứng Tý, có người bị chết, cũng có người lâu
ngày mới khỏi, là vì cớ sao? Xin cho biết rõ [19].
Kỳ Bá thưa rằng:
Chứng Tý, phạm thẳng vào Tàng, sẽ
chết, nếu lưu niên ở khoảng gân xương, thời lâu khỏi, nếu chỉ ở khoảng bì phu,
thời chóng khỏi [20-].
Hoàng Đế hỏi:
Nếu lý túc ở sáu phủ thì sao?
[21]
Kỳ Bá thưa rằng:
Đó cũng chỉ là do sự uống ăn, cư
xử mà gây nên. Sáu phủ cũng đều có Du, các khí “phong, hàn, thấp, trúng vào Du,
nhân có sự uống ăn tiếp theo, do Du mà vào, rồi đến ký túc vào Phủ
[22].
Hoàng Đế hỏi:
Dùng châm để điều trị, thế nào?
[23]
Kỳ Bá thưa rằng:
Năm Tàng có Du, sáu Phủ có Hợp.
Theo bộ phận của mạch, để tìm nơi mắc bệnh mà thích, sẽ khỏi
[24].
Hoàng Đế hỏi:
Khí của doanh, Vệ, có gây nên bệnh
Tý chăng? [25]
Kỳ Bá thưa rằng:
Vinh, là tinh khí của thủy cốc. Nó
hòa điều ở năm Tàng, thấm nhuần ở sáu Phủ, rồi sau mới dẫn vào mạch. Mạch đó
vòng khắp trên dưới, suốt qua năm Tàng và chằng vào sáu Phủ [26]. Vệ, là một thứ
hãn khí (mạnh, dữ) của thủy cốc. Cái tính của nó lật tật, hoạt lợi, không thể
vào trong mạch, cho nên dẫn đi ở trong bì phu, khoảng phận nhục, hun lên “hoang
mạc”, tan ra “hung phúc” [27].
Trái khí đó thời sinh bệnh, thuận
khí đó thời sẽ khỏi [28].
Nó không hợp với các khí phong,
hàn, thấp. Nên không gây nên bệnh Tý [29].
Hoàng Đế hỏi:
Bệnh Tý có khí đau, có khí không
đau, có khí bất nhân, có khí hàn, có khí nhiệt, có khí táo, có khi thấp... là vì
sao? [30]
Kỳ Bá thưa rằng:
[31]
Đau là do hàn khí nhiều. Còn như
không đau và bất nhân, là vì bệnh lâu vào sâu, Doanh Vệ dẫn đi bị rít, kinh lạc
có lúc xơ rỗng, nên bất thông, bì phu không có huyết thấm nhuần, nên bất nhân
[32]. Đến như chứng hàn, do Dương khí ít, Aâm khí nhiều, giúp thêm cho bệnh, nên
mới hàn [33]. Đến như nhiệt, do Dương khí nhiều, Aâm khí ít, bệnh khí thắng,
dương gặp âm, nên mới thành Nhiệt tý [34]. Như nhiều hãn đằm đìa, đó là vì gặp
thấp nhiều [35]. Dương khí ít, âm khí thịnh, hai khí cùng cảm nhau, nên hãn mới
ra đằm đìa [36].
Lại có chứng Tý, không đau là vì
sao? [37]
Tý mắc ở xương thời nặng, mắc vào
mạch thời huyết đọng mà không chảy, mắc ở cân thời co vào mà không duỗi ra được
mắc ở thịt thời bất nhân, bì thời hàn... Gặp năm chứng đó nên không đau [38].
Phàm bệnh Tý, gặp hàn, thời như kiến bò trong da, gặp nhiệt thời gân rã rời,
không cử động được [39].
Thiên bốn mươi tư: NUY
LUẬN
Hoàng Đế hỏi:
Năm Tàng, gây nên chứng Nuy, thế
nào? [1]
Kỳ Bá thưa rằng:
Phế chủ về bì mao, Tâm chủ về
huyết, Can chủ về cân mạc, Tỳ chủ về cơ nhục, Thận chủ về cốt tủy
[2].
Phế nhiệt, lá phổi khô, bì mao do
đó hư nhược cấp bách, gây nên chứng Nuy bịch [3].
Tâm khí nhiệt, thời mạch ở dưới,
quyết mà nghịch lên trên, do đó mạch ở dưới hư, vì hư sinh ra mạch nuy, ống chân
rã rời không bước đi được [4].
Can khí nhiệt thời đởm rà ra mà
miệng đắng, cân mạc khô, vì khô nên cân cấp mà co rút, thành chứng Cân nuy
[5].
Tỳ khí nhiệt, thời Vy khô mà
khát, cơ nhục bất nhân, thành chứng nhục nuy [6].
Thận khí nhiệt nên “yêu, tích”
không cất lên được, xương khô mà tủy vơi, thành chứng cốt nuy
[7].
Hoàng Đế hỏi:
Xin cho biết rõ nguyên nhân...
[8]
Kỳ Bá thưa
rằng:
Phế là một quan “trưởng” của các
Tàng, nó như cái “lọng” che cho Tâm, Có sự gì bỏ mất, cầu không thể được, thời
gây nên chứng.
Phế minh (kêu). Kêu thời Phế nhiệt mà Phế diệp
khô đét đi... Nên mới nói:
“Năm Tàng do “Phế nhiệt, diệp tiêu”, gây nên
chứng Nuy bịch (chân lỏng gân, không lê đi được) [9].
Bi ai quá độ thời bào mạch tuyệt. Bào mạch
tuyệt khiến cho Dương khí phát động ở bên trong, do đó Tâm hạ huyết băng, thành
chứng tiểu ra huyết. Cho nên ở bản kinh nói: “Đại kinh không hư, gây nên chứng
cơ tý, truyền làm chứng Mạch Nuy” [10].
Nghĩ ngợi quá độ, không được toại nguyện, ý dâm
ở bên ngoài, lại nhập phòng vô hạn, tông cân rã rời, thành chứng cân nuy, và
Bạch dâm (tinh khí tự tiết ra). Cho nên kinh nói: “chứng Cân nuy sinh ra bởi Can
mà nguyên nhân là sự nhập phòng” [11].
Vì yêm lưu ở nơi ẩm thấp, khiến cho thấp khí
thấm thía ở trong Cơ nhục, thành “tý” mà bất nhân, do đó gây nên chứng Nhục nuy.
Cho nên Kinh nói: “Nhục nuy gây nên bởi thấp” [12].
Vì sự đi xa nhọc mệt, gặp đại nhiệt mà khát, vì
khát nên Dương khí bị suy sút ở bên trong, do đó nhiệt sẽ thừa cơ ký túc ở Thận.
Thận là Thủy tàng. Giờ Thủy không thắng được Hỏa, thời xương khô mà tủy vơi, nên
chân không thể đi xuống đất, gây nên chứng Cốt nuy. Cho nên ở Kinh nói: “chứng
Cốt nuy gây nên bởi đại nhiệt” [13].
Hoàng Đế hỏi:
Lấy gì để phân biệt? [14]
Kỳ Bá thưa rằng:
Phế nhiệt thời sắc mặt trắng bợt mà lông rụng
[15]. Tâm nhiệt thời sắc mặt đỏ mà Lạc mạch ràn [16]. Cam nhiệt thời sắc mặt tái
xanh mà móng tay khô [17]. Tỳ nhiệt thời sắc mặt vàng mà thịt trường rung động
[18]. Thận nhiệt thời sắc mặt đen xạm mà răng se [19].
Hoàng Đế hỏi:
Vậy sao nói đến phương pháp trị chứng. Nay lại
chuyên trách về Dương minh, là thế nào? [20]
Kỳ Bá thưa rằng:
Dương minh là cái biểu của năm Tàng, sáu Phủ,
chủ về làm nhuận cho tông cân, tông cân chủ về bó ràng ngoài xương, để cho các
khớp được hoạt lợi [21]. Xung mạch là biểu của Kinh mạch. Chủ thấm nhuần cho các
Khê, Cốc (các bắp thịt lớn, nhỏ), cùng với Dương minh hợp vào tông cân. Aâm,
Dương bao trùm tất cả chỗ hội họp của tông cân [22]. Aâm dương bao trùm tất cả
chỗ hội họp của Tông cân, để hội ở Khí khái, mà Dương minh sẽ là Trưởng, đều
thuộc về Đái mạch, mà “lại’ sang Đốc mạch. Cho nên hễ Dương minh bị hư thời Tông
cân bị lỏng ra, Đái mạch không dẫn tới nữa, cho nên chân “nuy” không dùng được
[23]. Điều trị thế nào? [24] Trước phải bổ Vinh, rồi thông đến Du, làm cho những
hư thực được quân bình, những nghịch thuận được điều hòa, cân mạch, cốt, nhục
đều theo đúng vào mùa và tháng... Thời bệnh khỏi (1) [25].
Hoàng Đế khen là đúng.
Thiên bốn mươi lăm: QUYẾT LUẬN
Hoàng Đế hỏi:
Bệnh quyết (tay chân giá lạnh) chia ra hàn
nhiệt, là vì sao ? [1]
Kỳ Bá thưa rằng:
Dương khí suy ở dưới thời thành chứng Hàn quyết,
âm khí suy ở dưới, thời thành chứng Nhiệt quyết (1) [2].
Hoàng Đế hỏi:
Về chứng Nhiệt quyết, tức là dương quyết, vậy
sao lại khởi tứ túc tâm (lòng bàn chân, thuộc âm).? [3]
Kỳ Bá thưa rằng:
Dương khí phát ra khởi rừ ngoài năm đầu ngón
chân. Phàm âm mạch hợp ở dưới chân mà tụ ở Túc tâm. Vì dương khí thắng, nên túc
tâm nhiệt [4].
Vế chứng Hàn quyết, tức là âm quyết, vậy sao
lại khởi tử năm đầu ngón tay, rồi lan đến gối.? [5]
Aâm khí phát ra khởi từ phía trong năm ngón
tay, hợp ở dưới gối, mà tụ ở trên gối. Vì âm khí thắng, nên từ năm ngón tay đến
trên gối hàn. Chứng hàn đó, không pháp sinh từ bên ngoài mà là từ bên trong
[6].
Hoàng Đế hỏi:
Về chứng Hàn quyết, do Tàng nào bị khiếm khuyết
mà gây nên? [7]
Kỳ Bá thưa rằng:
Tiền âm là nơi tụ họp của Tông cân, và là chỗ
“hợp” của Thái âm, Dương minh [8].
Về hai mùa Xuân, Hạ thời dương nhiều mà âm khí
ít, về hai mùa Thu Đông thời Aâm khí thịnh mà Dương khí suy [9].
Giờ người mắc bệnh đó, vì sức khỏe, về hai mùa
Thu Đông làm lụng quá độ, khí ở dưới cố dẫn lên, không thể lại quay trở xuống...
Do đó, tinh khí cũng bị ràn ra ở dưới. Cái tà âm hàn liền thừa cơ mà sấn lên
[10].
Phàm khí, đều phải nhờ ở trung tiêu. Giờ Dương
khí suy, không thể thấm nhuần ra Kinh, Lạc, dương khí càng ngày sút dần, âm khí
càng ngày thịnh lên... vì vậy nên tay chân hàn [11].
Hoàng Đế hỏi:
Về chứng nhiệt quyết, do Tàng nào khiếm khuyết
mà gây nên? [12]
Kỳ Bá thưa rằng:
Rượu uống vào Vị, thời Lạc mạch “mãn” mà Kinh
mạch ‘hư”. Tỳ là một cơ quan du chuyển tân dịch cho Vị. Aâm khí đã hư, thời
Dương khí sẽ lấn vào, do đó Vị thành ra không hòa. Vì Vị không hòa, nên tinh khí
bị kiệt, không thể thấm nuôi ra Tứ chi...Vậy người mắc bệnh đó, tất do sự uống
say, ăn nó mà nhập phòng, khí tụ ở Tỳ, không tán đi được. Tửu khí với cốc khí
cùng xung đột nhau, nhiệt thịnh ở bên trong, cho nên khắp mình đều nhiệt, mà
nước tiểu cũng đỏ [13]. Ngâm như rượu, khí của nó thịnh mà tật hãn, nó làm cho
Thận khí hằng ngày suy sút, Dương khi hàng ngày tăng lên, vì vậy nên thủ túc mới
nhiệt [14].
Hoàng Đế hỏi:
Về chứng quyết, có khi khiến người phúc mãn, có
khi khiến người đột nhiên bất tri nhân (không biết người, tức bất tỉnh...), có
người đến nửa ngày, hoặc suốt ngày, rồi mới tri nhân, là vì sao? [16]
Kỳ Bá thưa rằng:
Aâm khí thịnh ở trên thời dưới hư: vì dưới hư
nên thành chứng phúc trướng mãn... Dương khí thịnh ở trên, thời khí ở dưới cũng
theo lên, do đó tà khí cũng ngược lên, tà khí đã ngược lên thời Dương khí loạn.
Dương khí loạn nên bất tri nhân [16].
Hoàng Đế hỏi:
Xin cho biết chứng Quyết của sáu Kinh mạch như
thế nào ? [17]
Kỳ Bá thưa rằng:
Chứng Quyết thuộc kinh Cự dương thời đầu nhức và
nặng, chân đi khó khăn, có khi chóng mặt mà ngã [18].
Chứng quyết của kinh Dương minh thời phát điên,
chỉ muốn chạy ra kêu to, phúc mãn không thể nằm, mặt đỏ mà nóng, thấy bậy nói
càn [19].
Chứng quyết của kinh Thiếu dương, bỗng dưng tai
điếc, quai hàm sưng mà nhiệt, sườn đau, xương đầu gối không cử động được [20]
.
Chứng quyết của kinh Thái âm, thời phúc mãn mà
trướng vượt lên, đại tiện khi, không muốn ăn, ăn vào thời nóân, không nằm được
[21].
Chứng quyết của kinh Thiếu âm thời miệng khô,
nước tiểu đỏ, phúc mãn và tâm thống [22].
Chứng quyết của kinh quyết âm thời Thiếu phúc
sưng và đau, phục trướng, tiểu tiện không lợi, hay nằm co đầu gối, âm hành rụt
lại hoặc sưng, trong bọng chân nóng. Thịnh thời nên tả, hư thời nên bổ. Không
thịnh không hư, nên thích ở bản kinh [23].
Chứng quyết nghịch ở Thái âm, ống chân đau rút.
Tâm thống dẫn xuống phúc. Nên trị nơi chủ bệnh (tức Tỳ, vị Tỳ chủ về khí ở kinh
này). (1) [24].
Chứng quyết nghịch của thiếu âm, hư mãn và ẩu
nghịch, đi tả ra nước trong, nên trị nơi chủ bệnh của nó [25].
Chứng quyết nghịch của quyết âm, vòng ngang
lưng đau, hư mãn và tiểu tiện bị vít, nói mê lảm nhảm... nên trị nơi chủ bệnh
[26].
Ba kinh âm đều nghịch, đại tiểu đầu bị vít,
khiến bệnh nhân tay chân giá lạnh, trong vòng ba ngày sẽ chết (1)
[27].
Chứng quyết nghịch của Thái dương, ngã lăn, ẩu
huyệt, hay Nục (đổ máu đằng mũi). Nên trị ở nơi chủ bệnh [28].
Chứng quyết nghịch của Thiếu dương, các cơ quan
không dễ dàng, khiến cho yêu đau không đi được, cổ đau không ngoảnh được. Rồi
phát ra chứng Trường ung, hoặc phát sinh, sẽ chết [29].
Chứng quyết nghịch của Dương Minh, suyễn và ho,
mình nóng, hay kinh, nục ẩu huyết [30].
Chứng quyết nghịch của Thủ Thái âm, hư, đầy mà
ho, hay nóân ra nước dãi... Trị ở nơi chủ bệnh [31].
Chứng quyết nghịch của Thủ Thái âm, Tâm thống
rút lên cuống họng, mình nóng, không thể chữa [32].
Chứng Quyết nghịch của Thủ Thái dương, tai
điếc, nước mắt chảy ra, cổ không thể ngoảnh được, yêu không thể cú ngửa được.
Trị ở nơi chủ bệnh [33].
Chứng quyết nghịch của Thủ Dương minh, phát
chứng Hầu tý, sưng trong cuống họng, hoặc thành chứng “Kinh”. Trị ở nơi chủ bệnh
(1) [34].
Thiên bốn mươi sáu: BỆNH NĂNG LUẬN
Hoàng Đế hỏi rằng:
- Người mắc bệnh Vị quản ung, chẩn thế nào có
thể biết được (1)? [1]
Kỳ Bá thưa rằng:
- Chẩn bệnh đó, nên “hậu” ở Vị mạch. Mạch đó sẽ
Trầm. Tế Trầm, Tế là do khi nghịch. Nghịch thời mạch ở Nhân nghinh tất phải rất
thịnh, rất thịnh nên nhiệt (2) [2].
Nhân nghinh là mạch của Vị. Nếu nghịch mà thịnh
thời đó là do nhiệt tụ ở Vị khẩu, mà không dẫn đi được, nên mới thành chứng Ung
ở Vị khẩu [3].
Hoàng Đế hỏi:
Vì sao bệnh nhân không thể nằm yên?
[4]
Kỳ Bá thưa rằng:
Vị Tàng bị thương, tinh khônng thể dẫn đi, qui
tụ cả vào Vị, nên không thể nằm yên [5].
Không thể nằm ngửa được, là vì sao?
[6]
Phế, như cái lọng che cho cả các Tàng. Phế khí
thịnh nện mạch Đại, mạch đại nên không thể nằm ngửa. Đã bàn rõ ở thiên Kỳ hằng
âm dương [7].
Có người mắc bệnh Quyết, chẩn mạch bên Hữu trầm
mà Khẩn, mạch bên Tả Phù mà Trì...Vậy chủ bệnh ở đâu? [8]
Nếu chẩn về mùa Đông, mạch bên Hữu vốn nên Trầm
Khẩn, đó là ứng với bốn mùa, mạch bên Tả Phù mà Trì, dó là trái với bốn mùa. Ở
bên tả, nên chủ về bệnh ở Thận, cũng có quan hệ đến Phế, và đau ở “yêu”
[9].
Vì sao? [10]
Vì mạch của kinh Thiếu âm suốt qua Thận, chằng
lên phế. Giờ chẩn được Phế mạch, đủ biết là Thận cũng mắc bệnh mà thành chứng
đau ở “yêu” [11].
Có người mắc chứng Cảnh ung (mụn ở cổ), hoặc
dùng đá, hoặc dùng châm và cứu, mà đều khỏi, vậy chính bệnh nó ở đâu?
[12]
Đó, danh tuy giống nhau, nhưng bệnh chứng lại
có khác. Về khí của bệnh Ung, nên dùng đá để tả... Vì vậy nên bệnh danh không
khác mà trị pháp lại khác [13].
Có người mắc bệnh “giận dữ, rồi dại”, nguyên
nhân bởi đâu? [14]
Đó là sinh ra bởi khí dương ... [15]
Khí dương, sao lại có cuống? [16]
Dương khí vì nén ép, không phấn phát lên được,
mới thành chứng cuồng nóä (1). Bệnh đó gọi là Dương quyết [17].
Điều trị bằng phép nào? [18]
Dương minh thời thường động, Cự dương Thiếu
dương không động. Giờ lại động mà đại, tật, nên mới thành bệnh. Vậy giờ chỉ giảm
bớt ăn, sẽ khỏi [19].
Phàm ăn, thời nhờ ở sự biến hóa của Thái âm mà
trướng khí ở Dương minh. Dương minh là một cơ quan vừa nhiều khí lại nhiều
huyết, nếu lại cho thêm thức ăn vào thời dương càng thịnh mà cuồng càng tăng.
Vậy điều cần nhất là giảm bớt ăn, rồi cho uống nước “sinh thiết lạc” (1), vì nó
có cái năng lực hạ khí rất hay [20].
Hoàng Đế hỏi:
Có người mắc bệnh mình nóng, rã rời, hãn ra như
tắm, ố phong và thiểu khi… Đó là bệnh gì? [21]
Kỳ Bá thưa rằng:
Bệnh đó gọi là Tửu phong [22].
Điều trị thế nào? [23]
Dùng Trạch tả, Truật, mỗi vị 10 phân, Mi hàm
thảo (tức vô tâm thảo, hoặc vô phong thảo) 5 phân, dùng ba nhúm tay, uống sau
khi ăn cơm [24].
Như nói: “mạch Trầm mà tế...” tức là khí chẩn
mạch tin vào tay chỉ như hình “châm” lấy tay miết mạch xuống, nếu Tỳ khí tụ ở Tỳ
thời mạch sẽ “kiên”, nếu Thận khí dồn lên Can, Can dồn lên Tâm thời mạch sẽ
“đại” (1). [25]
Thiên bốn mươi bảy: KỲ BỆNH LUẬN
Hoàng Đế hỏi rằng:
Có người có thai, được 9 tháng, bỗng dưng câm,
là bệnh gì? [1]
Kỳ Bá thưa rằng:
Đó là do mạch của bào lạc bị nghẽn...
[2]
Vì sao? [3]
Bào lạc, buộc vào với mạch của Thủ Thiếu âm
suốt qua Thận chằng lên cuống lưỡi... vì thế nên không nói được [4].
Điều trị thế nào? [5]
Không cần điều trị, qua 10 tháng, thai sinh rồi
sẽ lại nói được [6].
Thích pháp nói: “Đừng làm tổn cho bất túc, đừng
giúp ích cho hữu dư... đợi khi thành bệnh đã, rồi sau sẽ điều trị...”. “Đừng làm
tổn bất túc” là vị bệnh nhân đã gầy còm, không còn dùng Châm, thạch vào đâu được
nữa [7].
“Đừng giúp ích cho hữu dư..” là vì trong bụng
“có hình” mà lại làm cho tiết ra, tức thời “tinh” cùng tiết ra theo, khiến cho
bệnh tà được một mình chiếu cứ ở trong... Do đó, sẽ lại gây thêm bệnh
[8].
Hoàng Đế hỏi:
Có người mắc bệnh dưới hiếp mãn, khí nghịch, tới
hai ba năm vẫn không khỏi, đó là bệnh gì? [9]
Kỳ Bá thưa rằng:
Bệnh đó gọi là “Tức tích”. Nó không trợ ngại
việc ăn, nhưng không thể cứu và thích. Phả dùng phép Đạo dẫn rối mới uống thuốc,
chỉ một mình thuốc không chữa được (1) [10].
Hoàng Đế hỏi:
Có người chứng thân thể, vế, đùi, bọng chân đều
thũng, xung quanh rốn đau… Đó là bệnh gì? [11]
Kỳ Bá thưa rằng:
Bệnh đó gọi là Phục lương, tức là gốc của Phong
khí nó tràn ra ngoài Đại tràng mà bám lên Hoang. Gốc của Hoang lại ở phía dưới
rốn, vì thế nên đau ở xung quanh rốn. Đừng động đến nó. Nếu động đến nó sẽ gây
nên thủy bệnh và Niệu sắc (tiểu tiện bí, rít, không ra được) [12].
Hoàng Đế hỏi:
Có người Xích mạch sắc quá, cân cấp mà lại hiện
cả lên sắc mặt... Đó là bệnh gì? [13]
Kỳ Bá thưa rằng:
Đó gọi là “Chẩn cân” (tức gân mắc bệnh). Bệnh
nhân phúc bộ tất co rút, mặt hiện ra sắc trắng hoặc đen. Như vậy là bệnh
[14].
Có người mắc chứng nhức đầu, vài năm mới khỏi.
Vì đâu mà sinh ra như vậy? Và gọi là bệnh gì? [15]
Người đó tất từng phạm phải đại hàn, bên trong
sâu vào tới xương tụy, tủy, tủy lấy não làm gốc. Vi não bị nghịch, nên thành
chứng đầu thống, và đau tới cả răng. Tên bệnh là quyết nghịch [16].
Hoàng Đế hỏi:
Có người mắc bệnh, trong miệng cứ có vị ngọt
luôn, tên là bệnh gì? Vì sao mắc phải? [17]
Đó là ngũ khí ràn lên. Trên là Tỳ đản
[18].
Phàm năm vị ăn vào miệng chứa ở Vị, Tỳ vì Vị
dẫn hành tinh khí. Bao tân dịch đều ở Tỳ, nên thành chứng khẩu cam (ngọt ở
miệng). Bệnh đó do ăn nhiều các thứ “phì mỹ” (béo, ngon) mà sinh ra
[19].
Phàm chất béo, khiến người sinh chứng nóäi
nhiệt, vị ngọt, khiến người sinh chứng trung mãn. Đến khi khí đó ràn lên, sẽ
chuyển thành chứng Tiêu khát (vì nóäi nhiệt). Nên dùng cỏ Lan để điều trị, vì nó
bài trừ được khí trầm uất (uất tích lâu ở trong) [20].
Có người mắc chứng, trong miệng có vị đắng, lấy
huyệt tuyền mà miệng đắng... Tên là bệnh gì? Và vì sao mắc bệnh ấy?
[21]
Bệnh đó tên là Đởm đản. Can là một cơ quan có
cái nhiệm vụ như vị Tướng quân, nhưng phải thủ quyết ở Đởm, yết hầu, cuống họng
là “ngoại sứ” của Can, mà cùng liên lạc với Đởm [22].
Bệnh nhân tất thường có việc mưu lự không
quyết, khiến Đởm hư, khi ràn lên, thành chứng đắng miệng. Nên thích ở Đởm mạc
Du. Về phương pháp điều trị, đã có ở thiên “Aâm dương thập nhị quan tương
sử”
(Aùn: Thiên này, ở Tố vấn là Linh Khu đều không
có. Có lẽ do một cổ kinh nào khác mà giờ không còn) [23].
Hoàng Đế hỏi:
Có người mắc bệnh “long”, ngày đi tiểu tới vài
mươi lần... Như thế là thuộc về bất túc, mình nóng như than, cổ với ức như bị
ngăn cách, mạch ở Nhân nghinh táo thịnh, thở suyễn khi nghịch... Như thế là
thuộc về hữu dư. Chẩn đến mạch ở Thái âm thời lại “vi, tế” như sợi tóc... Như
thế lại là bất túc. Vậy bệnh đó ở đâu và tên là gì? [24]
Kỳ Bá thưa rằng:
Bệnh tại Thái âm, mà thịnh ở Vị, kiêm cả ở Phế,
tên là Quyết. Chết không chữa được (1) . Đó tức là thuộc về chứng “Ngũ hữu dư,
nhị bất túc” [25].
Ngũ hữu dư, nhị bất túc là gì? [26]
Năm bệnh khí thuộc hữu dư, và hai bệnh khí
thuộc bất túc (2). Giờ bên ngoài đã có năm hữu dư, bên trong lại có hai bất
túc, biểu lý âm dương đều đã đoạn tuyệt, còn sống làm sao được [27].
Hoàng Đế hỏi:
Người mới lọt lòng đã mắc tật điên, vậy tân bệnh
là gì? Và vì sao mà mắc? [28]
Kỳ Bá thưa rằng:
Đó gọi là Thai bệnh. Nguyên nhân do từ khí còn
nằm trong bụng mẹ, người mẹ bị điều gì quá sợ hãi khí ngược lên mà không giáng
xuống được, tinh với khí dồn ở làm một, nên đứa con mới phát chứng điên như vậy
(1) [29] .
Hoàng Đế hỏi:
Có người mặt “ụ” ra như bị thủy thũng, thiết vào
mạch thời Đại và Khẩn. Khắp mình không đau đớn, mình không gầy đi, nhưng không
ăn được, và chỉ ăn rất ít. Đó là bệnh gì? [30]
Kỳ Bá thưa rằng:
Bệnh đó phát sinh tại Thận, gọi là Tận phong.
Người mắc Thận phong, không ăn được, hay kinh (sợ), sau khi khỏi kinh, nếu Tâm
khí rã rời thời sẽ chết (1) [31].
Thiên bốn mươi tám: ĐẠI KỲ LUẬN
1) Phàm Can khí mãn, Thận khí mãn, Phế khí mãn.
Mạch tất sẽ đều “thực”, và thành chứng thũng (tức phù thũng, bệnh ở bộ phân da)
[1].
2) Phế bị nghẽn, suyễn mà hai bên sườn (khư)
mãn, nằm thời kinh, không tiểu tiện được [2].
3) Thận bị nghẽn, từ thiếu phúc đến dưới chân
đều mãn (đầy) bộng chân có bên nhỏ bên to, nếu bệnh biến sẽ thành thiên khô (1)
[3].
Tâm mạch mãn và đại, phát thành chứng giản khiết
và Cân loan (co gân) [9].
Can mạch tiểu và cấp, phát thành chứng giản
khiết và Cân loan (1) [10].
Can mạch bỗng dưng bạo loạn, tất do có sự kinh
hãi. Nếu mạc không đến mà ấm (như câm không nói ra được), không cần chữa, sẽ tự
khỏi (khi nào mạch đến sẽ nói được) [11].
Thận mạch tiểu và cấp, Cân mạch tiểu và cấp, Tâm
mạch tiểu và cấp... [12]
Không bựt lên tay, đều là chứng giả (Một chứng
thuộc loại tích tụ) [13].
Mạch của Can, Thận đều Trầm, là chứng thạch
thủy, nếu đều phù, sẽ là chứng phong thủy, nếu đều hư, sẽ chết, nếu đều tiểu và
huyền, sẽ phát kinh (đoạn này nói về mạch của Can bới Thận giống nhau, thời bệnh
cũng không khác) [14].
Mạch của Thận Đại, Cấp và Trầm, mạch của Can
Đại, Cấp và Trầm... Đều thuộc bệnh Sán (Sán tức là Sán khi, đau rút ở bụng dưới,
khác với “Sán” ta thường dùng [15].
Mạch của Tâm bựt lên tay, Đoạt và Cấp, là có
chứng Tâm sán, mạch của Phế Trầm và bựt lên tay là có chứng Phế sán
[16].
Tam Dương mạch cấp là có chứng giả, Tam Aâm mạch
cấp là có chứng Sán [17].
Nhị Aâm mạch cấp là chứng giản quyết. Nhị Dương
mạch cấp là có chứng Kinh [18].
Mạch của Tỳ bên ngoài hiện ra Cổ (cũng như bác,
bựt lên tay) mà bên trong Trầm, là chứng Trường tiết, lâu sẽ tự khỏi
[19].
Mạch của Can Tiểu và Hoãn, chứng Trường tiết, dễ
trị (Hoãn là nhiệt nhiều, Tiểu là huyết khí đều ít. Đây, vì cái khí Dương nhiệt,
bách vào Aâm tàng, khiến huyết khí của Can tàng tiết xuống mà thành hư, nên mạch
Tiểu và Hoãn. Nhưng Can vốn chủ về tàng huyết, nên dù bị cái khí dương nhiệt,
cũng còn dễ chữa) [20].
Mạch của Thận Tiểu, bựt lên tay mà lại Trầm, là
chứng Trường tiết và ra huyết. Nếu huyết ôn (ấm) mà mình nóng, sẽ chết (1)
[21].
Tâm và Can mắc chứng Trường tiết cũng ra huyết
nhưng nếu hai Tàng cùng mắc bệnh, còn có thể chữa. Phàm mạch Trầm, Tiểu, Sắc là
chứng Trường tiết, nếu mình nóng là chứng nguy, nóng luôn 7 ngày sẽ chết (1)
[22].
Mạch của Vị Trầm mà cổ, lại Sắc, nếu đẩy ra
ngoài... Mạch của Tâm tiểu kiên và Cấp... Đều mắc chứng “Cách” và thiên khô. Con
trai sẽ bị ở bên tả, con gái ở bên hữu. Nếu không “ấm” lưỡi uốn đi uốn lại được,
có thể chữa, ba mươi ngày sẽ khỏi, nếu tuổi chưa đầy hai mươi, thời ba năm sẽ
chết (2) [23].
Mạch đến mà Bác, huyết nục, mình lại nóng, sẽ
chết, nếu nục mà mạch Câu và Phù, thời là thường mạch, không ngại (1) [24]
.
Mạch đến Hoạt Cấp như Suyễn, gọi là Bạo quyết,
chứng này sẽ hôn mê không biết gì [25].
Mạch đến mà Sác, khiến người bạo kinh, ba ngày
sẽ khỏi (1) [26].
Mạch đến “Phù hợp” (như làn sóng nóåi hợp lại
nhau, hình dung sự vô căn), Phù hợp như đếm, mỗi tức từ 10 chí trở lên, đó là
Kinh khí bất túc. Nếu “vi hiện” (mới hơi thấy) mạch ấy, trong vòng 9, 10 ngày sẽ
chết [27].
Mạch đến “bừng bừng” như lửa cháy, đó là Tâm khí
bị đoạt. Tới mùa cỏ khô (tức mùa Thu) sẽ chết [28].
Mạch đến lơ lửng như chiếc lá rơi, đó là Can khí
đã hư. Tới mùa lá rụng (tức mùa Thu) sẽ chết [29].
Mạch đến vội vàng như “tỉnh khách” (khách đến
hỏi thăm, tới cửa đi ngay), luồng mạch đầy lên tay mà cổ, đó là Thận khí bất
túc, tới mùa Táo có hoa (tức Trường hạ) sẽ chết [30].
Mạch đến dấp dính như “Nê hoàn” (viên bùn, tròn
mà không hoạt), đó là Vị tinh bất túc. Tới khi lá Du giáp rụng (Xuân) sẽ chết
[31].
Mạch đến vướng mắc như “Hoàn cách”, đó là Đởm
khí bất túc. Tới mùa chín (cuối Thu) sẽ chết (1) [32].
Mạch đến như nắn giây tơ, đó là Bào tinh bất
túc. Bệnh nhân hay nói. Tới mùa sương xuống sẽ chết [33].
Mạch đến như Giải tật (ép sơn, chảy tung toé ra
cả xung quanh)... Nếu “vị hiện” ba mươi ngày sẽ chết. (1) [34].
Mạch đến như Dũng toán (nước suối vọt lên). Phù
mà cổ ở trong da... Đó là Thái dương khí bất túc, tiêu bản đều hư. Tới mùa rau
Cửu có hoa (rau hẹ, tức mùa Xuân), sẽ chết [35].
Mạch đến như Đồi thó (đất lở, trông vẫn có, động
đến thời lở xuống), án vào không được. Đó là cơ khí bất túc, mặt hiện sắc đen,
tời mùa giây cát tốt (Xuân), sẽ chết [36].
Mạch đến như Huyền ung (tức hội áp, một cúc thịt
bạu xuống giữa cuống họng. Nó tròn mà mềm) ấn tay vào tẹp xuống mà lại “phù” đại
“ngay”, đó là Du khí của mười hai kinh bất túc. Tới mùa nước đóng thành băng
(cuối đông), sẽ chết [37].
Mạch đến như Yến đao (dao để ngửa lưỡi), nó là
một mạch tượng để tay nhẹ thời Tiểu và Cấp, án hơi nặng thời lai Kiên, Đại, và
cấp... Đó là do khí uất, nhiệt của năm Tàng, dồn cả vào Thận. Bệnh nhân sẽ không
thể ngồi lên được. Tới tiết Lập xuân sẽ chết [38].
Mạch đến như hoàn hoạt (trơn như viên đạn tròn)
không dính tay, án vào không được (nó sẽ buột đi). Đó là khí của Đại trường bất
túc. Tới mùa Tảo hiệp nảy ra (Hạ) sẽ chết [39].
Mạch đến nhẹ nhàng như đóa hoa mới nở. Khiến
người hay sợ, nằm ngồi không yên, đi ứng thường nghe ngóng. Đó là tiều trường
khí bất túc. Tới mùa cuối Thu sẽ chết (1) [40].
Thiên bốn mươi chín: MẠCH GIẢI
Ở Thái Dương mà “nói là”: Yêu thũng, mông đau,
là vì tháng giêng, kiến Dần, Dần thuộc Thái dương. Tháng giêng, Dương ra ở trên,
nhưng Aâm vẫn còn thịnh. Dương chưa có thể theo đúng thứ tự đề ra. Do đó, sinh
ra chứng yêu thũng và mông (tức hao mông) đau (1) [1].
Bệnh thiên hư mà đi (đi lệch), do tháng giêng
dương khí đã giải đồng, địa khí tiết ra được rồi. Vậy mà nói là “thiên hử”, là
vì khí mùa Đông rét, khí bất túc nên sinh chứng như vậy [2].
Nói là: “Cổ cứng, đau rút xuống lương...” là vì
khí của Thái dương dẫn lên quá mạnh, rồi ngẽn lại ở đó [3].
Nói là: “Nếu quá lắm sẽ phát cuồng, phát
điên... “Đó là vì Dương khí bốc lên cả trên, mà Aâm khí đành trơ trọi ở dưới.
Dưới hư trên thực, nên mới sinh ra cuồng và điên, như vậy [4].
Nói là: “Mạch phù sẽ phát điếc...” Đều chỉ về
bệnh phát sinh tại khí [5].
Nói là: “Dương khí vào trong sẽ thành ấm...:Đó
là nói Dương khí đã suy, mà âm cũng hư, nên thành chứng trạng như vậy
[6].
Phàm những chứng bị “nóäi đoạt” mà quyết, gây
nên Aám và Phi (tứ chi rã rời) đều bởi Thận hư. Khí của Thiếu âm Thận không dẫn
đến, cũng gây nên chứng quyết [7].
Ở Thiếu dương mà nói là “Tâm, Hiếp Thống”... Đó
là nơi khí của Thiếu dương thịnh. Sở dĩ thịnh vì nó là Biểu của Tâm. Tới tháng
chín, Dương khí hết mà âm khí thịnh, nên phát sinh là vì âm khí chủ về tàng vật.
Vật đã tàng thời không thể động được, nên mới không thể trở mình [8].
Nói là: “Quá lắm thời chỉ muốn chạy nhảy...”.
Đó là vì: Về tháng chín, muôn vật đều hư, cỏ cây rụng héo, thời khí ở con người
cũng lánh Dương mà tới Aâm. Duy cái khí của Thiếu dương đương thịnh, dù có lọt
vào ở bên dưới, nhưng vẫn có ý muốn bốc mạnh trở lên, nên mới thành chứng trạng
như vậy [9].
Ở Dương Minh mà nói là “Rờn rợn, run rét...”
Bởi Dương minh thuộc Ngọ, Tháng năm, là tháng một Aâm ở trong thịnh dương. Dương
đương thịnh mà Aâm xen vào, nên mới thành chứng rờn rợn, run rét
[10].
Nói là: “Bộng chân thũng, không tự do lại
được”, do là vì tháng năm, một Aâm đã phát sinh ở trong thịnh dương mà Dương
cũng bắt đầu suy từ đó. Nhưng bởi một Aám mới sinh cùng Dương xung đột, gây
thành chứng hậu như vậy [11].
Nói là: Thượng suyễn mà thành Thủy thũng... “Đó
là vì Aâm khí đã hạ giáng lại rấn lên, lên cùng với tà khi ký túc ở khoảng Tàng,
Phủ, vì vậy nên Thủy thũng [12].
Nói là: “Hung thống và thiểu khí...” Đó là vì
thủy khí ký túc ở Tàng, Phủ, Thủy thuộc Aâm khí, Aâm khí xen vào trong, nên mới
thành hung thống và thiếu khí [13].
Nói là: “Quá lắm thời quyết, ghét người với
hỏa, nghe tiếng “gõ” (mộc) thời rùng mình mà sợ..” Đó là vì Aâm khí với Dương
khí cùng xung đột lẫn nhau, Thủy với Hỏa cùng ghét, nên mới rùng mình mà sợ
[14].
Nói là: “Muốn đóng kín cửa mà ở một mình”. Đó
là vì Aâm Dương cùng xung đột nhau. Dương đã hết mà Aâm lại thịnh, nên mới muốn
đóng cửa mà ở một mình [15].
Nói là: “Bệnh đến thời muốn lên cao mà hát, cởi
bỏ áo mà chạy...” đó là vì âm dương lại tranh giành nhau rồi dồn cả ra dương
phận ở bên ngoài, nên mới gây thành chứng trạng như vậy [16].
Nói là: “Ký túc ở Tôn lạc, thời sinh ra nhực
đầu, ty nục, và phúc thũng...” Đó là vị khí của Dương minh dồn lên trên. Trên
tức là thuộc về Tôn lạc của Thái âm. Nên mới gây thành các chứng trạng như vậy
[17].
Ở Thái âm, nói là “sẽ phát bệnh trướng”, vì
Thái âm thuộc Tý, tháng mười một, khi của muôn vật đều thâu tàng vào trong, nên
phát bệnh trướng [18].
Nói là: “chạy lên tâm thành chứng ợ...” vì âm
khi thịnh dồn lên trên Dương minh “lạc” của Dương minh lạc thuộc Tâm, nên thành
chứng ơ. [19]
Nói là “Aên vào thời ọe”, là vì vật chứa ở bên
trong đầy ràn quá mà sinh ra [20].
Nói là: “Nếu được đại tiện hay trung tiện thời
sẽ dễ chịu...” Vì tới tháng mười hai, âm khí suy ở dưới Dương khí muốn tiết ra
đằng trên, nên dưới cũng có tiết được ra mới dễ chịu [21].
Ở Thiếu âm, nó là “sẽ phát yêu thống...” Vì
thiếu âm tức là Thận. Về tháng mười, dương khí đều bị thương, nên mới yêu thống
[22].
Nói là: Aáu, khái, thượng khí và suyễn” là vì
Aâm khí ở dưới dương khí ở trên. Dương khí phù lên trên, không nương tựa vào
đâu, nên phát chứng như vậy [23].
Nói là: “Mọi việc đều không thể làm, không thể
đứng lâu, ngồi lâu, đứng lên thời mắt tờ mờ trông không tỏ...” Đó là vì muôn vật
âm dương không định, chưa có chủ, Khí Thu mới đến, sương Thu mới xuống, muôn vật
túc sái, âm dương bị đoạt, nên mới thành các chứng như vậy [24].
Nói là: “Ít khí và hay nóä...” Đó là vì khí của
Thiếu dương không thông đạt ra bên ngoài, do đó dương khi không tiết ra được,
Can khí cũng vì vậy mà không được thư xướng nên mới sinh ra hay nóä Chứng đó gọi
là Tiên quyết [25].
Nói là: “Thường sợ sệt như sắp bị người bắt”.
Đó là vì: Dương khí bên trong ít đi, âm khí bên ngoài lọt vào, hai khi cùng xung
đột, nên mới thường sợ sệt [26].
Nói là: “Ngửi mùi thức ăn thì ghét...” Đó là vì
Vị không có khí nên thành như vậy [27].
Nói là: Sắc mặt đen xạm” đó là vì khí bị đoạt ở
bên trong, nên huyết sắc ở bên ngoài cũng biết đi mất [28].
Nói là: “Khái thời lại có huyết...” Đó là vì
Dương mạch bị thương. Dương khí chưa thịnh ở bộ phận trên mà mạch lại mãn. Mãn
thời khái, mà thường khi lại ra cả đằng mũi [29].
Ở quyết âm, mà nói là: “phát các chứng bệnh
điên, sán, đàn bà thũng ở Thiếu phúc v.v... Đó là vì quyết -âm thuộc Thìn. Tháng
ba, ân tà sinh ra ở trong Dương, nên mới thành chứng điên sán và thũng ở Thiếu
phúc [30].
Nói là: “Sinh ra các chứng đồi, long, sán...”
(đều là tên vác chứng khó tiểu tiện). Là vì: về tháng đó âm khí thịnh, khiến cho
mạch phát trướng không thông, nên sinh chứng như vậy [31].
Nói là: Quá lắm thời “ách can” và “nhiệt
trung...”là vì âm dương cùng xung đột nhau, sinh ra nhiệt. Vì sinh ra nhiệt nên
mới thành chứng nhiệt trung và ách can [32].
Thiên thứ năm mươi: THÍCH YÊU LUẬN
Hoàng Đế hỏi:
Xin cho biết phần cốt yếu của phép thích
[1].
Kỳ Bá thưa rằng:
Bệnh có phù trầm, thích có nóâng sâu. Phải cho
đúng nhẽ, đừng có trái đạo. Thái quá thời nóäi thương. Bất cập thời gây sự đừng
có trái đạo. Thái quá thời nóäi thương. Bất cập thời gây sự nghẽn tắc ở ngoài,
tà khí sẽ do đó mà lấn theo. Sâu nóâng không đúng, lại gây vạ lớn. Bên trong
phạm vào 5 Tàng, rồi sau sinh bệnh lớn [2].
Cho nên nói: Có thứ bệnh ở hào mao (trong
lòng), tấu lý, có thứ bệnh ở bì phu, có thứ bệnh ở cơ nhục, có thứ bệnh ở mạch
có thứ bệnh ở Cân, có thứ bệnh ở cốt, có thứ bệnh ở Tủy [3].
Thích ở bì đừng làm thương đến nhục. Nếu thương
đến nhục thời bên trong sẽ động vào Tý. Động vào Tý thời qua bảy mươi hai ngày,
về bốn tháng cuối mùa, sẽ sinh ra bệnh phúc trướng, phiền, không muốn ăn (1)
[4].
Thích ở nhục đừng làm thương đến mạch. Nếu
thương đến mạch thời trong sẽ động vào Tâm. Động vào Tâm thời mùa Hạ phát bệnh
Tâm thống [5].
Thích ở mạch đừng làm thương đến Cân. Nếu
thương đến Cân thời bên trong sẽ động vào Can. Động vào Can thời mùa Xuân sẽ
phát bệnh nhiệt, và gân lỏng [6].
Thích ở cân đừng làm thương đến cốt. Nếu thương
đến Cốt, thời bên trong sẽ động đến Thận. Động đến Thận thời mùa Đông sẽ sinh
bệnh trướng và yêu thống [7].
Thích ở cốt đừng làm thương đến tủy. Nếu thương
đến Tủy thời tiêu thước và đau nhức trong ống chân... Thân thể cũng rã rời mỏi
mệt [8].
Thiên năm mươi mốt: THÍCH TỄ
Hoàng Đế hỏi:
Xin cho biết rõ sự nhất định của phép thích nên
nóâng, nên sâu thế nào? [1]
Kỳ Bá thưa rằng:
Thích ở cốt, đừng làm thương đến Cân, thích ở
Cân đừng làm thương đến nhục, thích ở nhục, đừng làm thương đến mạch, thích ở
mạch đừng làm thương đến bì, Thích ở bì, đừng làm thương đến nhục, thích ở nhục
đừng làm thương đến Cân, thích ở Cân đừng làm thương đến Cốt (1) [2].
Xin cho biết rõ
[3]
Thích ở cốt đừng làm thương đến
Cân...là nói nếu chậm vừa đến nhục đã thôi ngay. mà chưa vào đến Cân “Thích ở
nhục đừng làm thương đến mạch” là nói nếu chậm vừa đếm mạch đã thôi, mà chưa vào
đến nhục. “Thích ở mạch đừng làm thương đến bì” là nói: nếu châm vừa đến bì đã
thôi, mà chưa vào đến mạch [4].
Như nói: ‘thích ở bì đừng làm
thương đến nhục, là bệnh ở trong bì, châm cũng chỉ để vào đến trong bì, đừng
phạm vào đến nhục. Nói: “thích ở nhục đừng làm thương đến Cân... là vì hễ quá
nhục thời sẽ tới cân ngay. Nói thích ở cân đừng làm thương đến cốt...” là vì hễ
quá cân thời sẽ tới cốt ngay. Đó tức là trái.
(Đoạn trên này nói về phép thích,
cốt ở chừng mực không nên bất cập hoặc thái quá) [5].
Mạch đạt mà huyết ít, là do mạch
có phong khí, nước uống vào ít, huyết không có sự trợ ích [6].
Phàm thực, là do ở khí hút vào,
hư là do ở khí tiết ra. Khí thực là nhiệt, khí hư là hàn [7].
Nếu dùng châm để tả thực, thời
tay tả làm rộng ở huyệt vừa châm ra. Nếu dùng châm để bổ hư, thời tay tả làm vít
ở huyệt vừa châm lại (1) [8].
Thiên năm mươi tư: CHÂM
GIẢI
Hoàng Đế hỏi:
Xin cho biết phép dùng Cửu châm
(chín thứ châm) và thế nào là hư thực? [1]
Kỳ Bá thưa
rằng:
“Khí hư thì bổ cho thực”, tức là
đợi cho khi nào khí đến dưới châm đã nóng mới thôi, vì khí thực thời nhiệt. “Khí
mãn thời làm cho tiết”, tức là đợi cho khi nào khí đến dươi châm lạnh mới thôi.
Vì khí hư thời hàn. “Uất tích trời trừ đi” tức là dùng châm cho tiết bỏ ác huyết
[2].
“Tà thắng thời làm cho nó hư đi”,
vậy khí rút châm ra đừng bỏ vết châm lại để cho tà khí cứ theo đó mà tiết ra
[3].
Như nói: “thong thả mà nhanh thời
sẽ thực”, tức là lúc rút châm thời thong thả, nhưng sau khi châm rút ra hết rồi,
kịp vít ngay vết châm lại. Như nói: “nhanh mà thong thả thời sẽ hư”, tức là rút
châm ra nhanh mà thong thả mới lấy tay vít chỗ châm lại [4].
Nói “thực với hư” tức là nhận xem
khi đến ở dưới châm lạnh hay ấm thời biết là khí nhiều hay ít
[5].
Khí ở con người hư hay thực, như
có như không, phải yên tĩnh để nhật xét, nếu vội vàng không thể sao biết được
[6].
Bệnh có gốc ngọn, trị bệnh cũng
phải có gốc ngọn. Có phân biệt được gốc ngọn, mới mong trị được bệnh
[7].
Hư thời làm cho thực, thực thời
làm cho hư, về phép bổ tả, phải giữ cho đúng [8].
Cái cốt yếu của sự hư thực, đối
với phép dùng cửa châm, rất là tinh vi huyền ảo, nhưng cũng theo cái lẽ đương
nhiên thôi [9].
Trong khí hoặc bổ hoặc tả, thời
sự khai hạp của khí cũng phản ứng theo (tức như trên đã nói)
[10].
Phàm chín thứ châm, danh và hình
đều không giống nhau, có thể mới đầy đủ được phương pháp bổ và tả
[11].
Thích vào thực, muốn hư, hãy lưu
châm, chờ âm khí đến dưới châm nhiều rồi, sẽ rút châm [12].
Thích vào hư, muốn cho thực, chờ
dương khí đến dưới châm nhiều rồi, sẽ rút châm [13].
Như nói: “kinh khí đã đến, cần
giữ đừng lỡ...” tức là đừng để cho khí lại thay đổi trái khác, mới mong khỏi
bệnh [14].
Như nói: “Sâu nóâng ở chí...” tức
là đã biết rõ bệnh ở trong hay ngoài, để dùng châm hoặc sâu hoặc nóng cho đúng.
Như nói: “xa gần như một”, tức là lúc thích sâu hay nóâng phải có nhất định
[15].
Như nói: “Tay như nắm con hổ, tức
là nói dùng châm phải vững vàng, không nên hấp tấp) [16].
Như nói: “Thần không thể nào mọi
vật...” tức là bảo người dùng châm phải yên tĩnh để xem xét bệnh nhân, không nên
để tâm vào việc khác [17].
Vậy lúc cầm châm để châm cho bệnh
nhân, phải đoan trang yên tĩnh, dùng mắt của mình trong vào mắt của bệnh nhân,
khiến bệnh nhân chú ý vào mình, nhờ ở đó mà khí lưu hành được dễ dãi
[18].
Bì (da) của người, ứng với trời.
Nhục của người ứng với đất, mạch của người ứng với người. Cân của người ứng với
thì (mùa) tiếng của người ứng với âm, dương của người hợp với khí và ứng với
luật, răng và mặt, mắt của người ứng với tinh (sao), khí ra vào của người ứng
với phong (gió), Chín khiếu và ba trăm sáu mươi nhăm lạc, ưng với Dã (khu vực)
[19].
Cho nên châm số 1 để châm bì, châm
số 2 để châm nhục, châm số 3 để châm mạch, châm số 4 để châm cân, châm số 5 để
châm cốt, châm số 6 để điều âm dương , châm số 7 để ích tinh, châm số 8 để trừ
phong, châm số 9 để thông chín khiếu, và trừ 365 khí ở các tiết. Vì vậy, nên nói
các châm đó đều có “sở chủ” [20].
Tâm, Ý của con người ứng với tám
gió (gió của 8 phương) khí của con người ứng với trời, tóc, răng, tai, mắt và
ngũ thanh của con người ứng với 5 âm, 6 luật, âm, dương, mạch, và huyết khí của
con người, ứng với đất, can và mục của con người ứng với số cửu (tức chín).
[21]
Can khai khiếu lên mắt, nên hợp
gọi là “can mục”. Can thuộc mộc, mộc sinh ra bởi số 3. Ba nhân với ba tức
là số chín) [22].
Thiên năm mươi lăm: TRƯỜNG THÍCH TIẾT LUẬN
Thích gia không cần phải chẩn, chỉ nghe bệnh
nhân nói, cũng có thể thấu được bệnh tình [1].
Bệnh tại đầu, nhức đầu, dùng “tàng châm” (1)
để thích. Thích tới cốt, bệnh khỏi, sẽ thôi. Phàm thích, đừng làm thương đến cốt
nhục và bì. Bì là con đường để châm (2) [2].
Phàm trị về hàn nhiệt, phải dùng âm thích.
Phương pháp âm thích, thích vào chính huyệt một châm, thích vào bàng huyệt 4
châm [3].
Nếu bệnh nặng và lâu, nên điều trị Đại tàng.
Phàm thích Đại tàng, nên thích ở lưng mà cho gần tới Tàng. Bởi dư huyệt của Tàng
ở lưng [4].
Thích ở Du mà gần tới Tàng, thời tàng khí với
châm sẽ hợp nhau, mà chứng hàn nhiệt ở trong phúc sẽ bài trừ hết [5].
Nhưng cái cốt yếu của phép thích, không nên để
cho huyết ra quá nhiều, chỉ phát châm nóâng cho huyết ra ít thôi [6].
Trị chứng ung thũng (mụn, sưng, nát), nên thích
ngay trên Ung. Trong xem ung lớn hay nhỏ, để định sự thích sâu hay nóâng
[7].
Thích ung lớn, nên cho ra nhiều huyết, thích
ung nhỏ, nên để nóâng châm [8].
Phải giữ châm cho thật ngay, đừng để phạm đến
thịt lành. Thích vừa đúng chỗ có máu mủ thì thôi [9].
Bệnh tại Thiếu phúc, có vật uất tích. Nhận ở
Thiếu phúc, chỗ nào da “cồn dầy” lên thời thích. Lại thích ở hai bên đốt xương,
Tân du sống thứ tư, thích ở hai bên yêu cốt, hai bên hiếp lặc... Để dẫn cho
nhiệt khí ở trong phúc do dưới châm mà tiết ra, ý xá, Kinh môn [10].
Bệnh tại Thiếu phúc, phúc thống không đại, tiểu
tiện được, gọi là Sán, thích ở Thiếu phúc, hai đùi, yêu và khỏa cốt... Thích để
mũi châm lâu sẽ rút ra, nhiệt khí tiết ra hết, bệnh sẽ khỏi [11].
Bệnh tại cân, cân rút, khớp đau, không thể đi
được, gọi là Cân tý. Vì thế phải thích ở trên cân, thích ở khoảng phận nhục,
nhưng không được để trúng vào xương. Cân đã thư, bệnh sẽ hết, cân đã nóng, bệnh
sẽ khỏi, và thôi không phải nữa [12].
Bệnh tại cơ phụ, cơ phụ đều đau, gọi là Cơ tý.
Bệnh này gây nên bởi hàn thấp, phải thích ở đại phận nhục, tiểu phận nhục
[13].
Châm nhiều huyệt và sâu, để cho khí nhiệt dẫn
đến. Nhưng đừng làm thương đến cân cốt [14].
Nếu thương đến cân cốt, sẽ biến thành chứng nan
hoán (tay chân rã rời bất toại bên tả, hoặc bên hữu) chờ bao giờ các phận nhục
nhiệt đều, bệnh sẽ khỏi, và thôi không phải châm [15].
Bệnh tại cốt, cốt nặng không thể cử động được.
Cốt tủy toan thống, do hàn khí phạm vào, gọi là Cốt tý. Phải thích sâu, đừng làm
thương đến mạch và nhục. Vì con đường của nó phải đi qua Đại, tiểu phận nhục.
Khi nào trong cốt nóng đều, bệnh khỏi, sẽ thôi không phải châm [16].
Có chứng bệnh, lúc mới phát, thường mỗi năm
phát sinh một lần, nếu không chữa, dần dần đến mỗi tháng một lần, hoặc ba bốn
lần gọi là bệnh... Điên. Thích ở các phận nhục, các mạnh. Nếu không có chứng
hàn, thời dùng châm để làm cho điều hòa, bệnh khỏi sẽ thôi không phải châm
[17].
Bệnh thuộc về phong, vừa hàn, vừa nhiệt, nhiệt
hãn toát ra, nhiều lần. Trước hãy thích vào các phận lý, lạc, mạch. Nếu hãn vẫn
ra, mà vẫn cứ hàn vừa nhiệt, thời ba ngày thích một lần, thích tới trăm ngày thì
khỏi bệnh [18].
Bệnh đại phong (tức lệ phong), các khớp xương
nặng nề, râu. Thích ở cơ nhục, để cho hãn ra, một trăm ngày thích ở cốt tuỷ, để
cho hãn ra, một trăm ngày gọi là chứng Đại phong khoảng hai trăm ngày, râu và
lông mày mọc lại, thì không châm nữa (1) [19].
Thiên năm mươi sáu: BÌ BỘ LUẬN
Hoàng Đế hỏi:
Tôi nghe bì (da) có phận bộ, mạch có kinh kỷ,
cân có kết lạc, cốt có độ lượng... Chủ về bệnh đều có khác nhau. Vậy tả, hữu,
trên, dưới và Aâm, Dương ở đâu, sinh ra bệnh trước sau thế nào, xin cho biết rõ
[1].
Kỳ Bá thưa rằng:
Muốn biết bì bộ, phải dùng Kinh mạch để ghi nhớ.
Các Kinh khác đều như vậy (1) [2].
Dương Lạc của Dương Minh, gọi là Hai phi. Trên
dưới (tức Thủ, Túc Dương Minh) cùng một phép xét nhận. Hễ thấy trong bộ phận, có
“phù lạc” hiện lên, tức là Lạc của Dương Minh. Trông xem sắc của nó, nếu xanh
nhiều là “thống”, đen nhiều là “tý” hoàng và xích là nhiệt, trắng nhiều là hàn.
Nếu năm sắc đều hiện làvừa hàn vừa nhiệt. Ở Lạc mà thịnh (nhiều), sẽ dẫn vào
Kinh (1). Dương chủ về bệnh ở ngoài, Aâm chủ về bệnh ở trong. (2)
[3].
Dương lạc của Thiếu dương, gọi là Khu trì. Trên
dưới cùng một phương pháp. Hễ thấy trong bộ phận có “phù lạc” hiện lên, tức là
Lạc của Thiếu dương. Lạc thịnh thời dẫn vào kinh. Cho nên ở Dương thời chủ dẫn
vào, ở âm thời chủ dẫn ra, để lại thấm vào trong. Các kinh khác đều như vậy. (1)
[4].
Dương lạc của Thái dương gọi là quan khu, trên
dưới cùng một phương pháp. Hễ thấy trong bộ phận có phù lạc hiện lên tức là Lạc
của Thái dương. Lạc thịnh thời dẫn vào Kinh [5].
Aâm lạc của Thiếu âm gọi là Khu nhu. Trên dưới
cùng một phương pháp. Hễ thấy trong bộ phận có phù lạc hiện lên, tức là Lạc của
Thiếu âm. Lạc thịnh thời dẫn vào Kinh. Khi dẫn vào Kinh, qua Dương bộ để rót vào
Kinh, khi dẫn ra, do âm bộ rót vào trong Cốt (1) [6].
Âm lạc của Tâm chủ gọi là Hạ kiên. Trên dưới
cùng phương pháp. Hễ thấy trong bộ phận có phù lạc hiện lên, tức là Lạc của Tâm
chủ, Lạc thịnh thời dẫn vào Kinh. “Trên” tức Thủ quyết âm Tâm chủ, “dưới” tức
Túc quyết âm Can [7].
Aâm lạc của Thái âm, gọi là quan trập. Trên
dưới cùng phương pháp. Hễ thấy trong bộ phận có “phù lạc” hiện lên tức là Lạc
của Thái âm. Lạc thịnh thời dẫn vào Kinh [8].
Phàm Lạc mạch của mười hai kinh, đều có hiện ra
ở bì bộ [9].
Xem đó thời biết: trăm bệnh khi mới phát sinh
đều trước từ bì mao. Tả trúng vào nó thời tấu lý mở ra. Tấu lý mở ra thời phạm
vào Lạc mạch. Nếu cứ để nó ở đó mà không tả đi, thời nó sẽ truyền kinh. Vào kinh
mà vẫn để vậy, thời nó lại truyền vào Phủ, và ký túc ở Trường, Vị
[10].
Tà khí mới phạm vào bì mao, thời các chân lông
đều “sẩn” cả lên, rồi tấu khi mở ra mà dẫn vào Lạc [11].
Khi vào lạc, thời Lạc mạch thịnh, sắc biến đi
[12].
Khi dẫn vào Kinh, thời khi của Tàng phủ bị hư
mà lõm xuống [13].
Nếu lưu ở khoảng cân cốt, hàn nhiều thời cân
rút, cốt đau, nhiệt nhiều thời cân trùng, cốt tiêu, thịt sút, xương khoai nứt
nẻ, lông tóc cứng thẳng, các bại chứng đều phát sinh [14].
Mười hai bộ của bì, phát sinh bệnh thế nào?
[15]
Bì là bộ phận của mạch. Tà phạm vào bì thời tấu
lý mở ra, do đó tà phạm vào Lạc mạch, lại do Lạc mạch phạm vào Kinh mạch. Kinh
mạch mãn thời phạm vào Tàng, Phủ. Vậy biết. bì cũng có bộ phận, vì khi bất cập
mới gây bệnh, nên bệnh lớn [16].
Thiên năm mươi bảy: KINH LẠC LUẬN
Hoàng Đế hỏi rằng: [1]
Lạc mạch hiện ra năm sắc khác nhau. Sở dĩ có sự
không giống nhau đó, là vì sao? [2]
Kỳ Bá thưa rằng:
Kinh có thường sắc, còn lạc thời biến dịch rất
không thường.
Thế nào là thường? [3]
Tâm đỏ, Phế trắng, Can xanh, Tỳ vàng, Thận đen.
Đó là mạch sắc thường của các Kinh [4].
âm Dương của Lạc, có ứng với Kinh không?
[5]
Sắc của Aâm lạc, ứng với Kinh, sắc của Dương
lạc, biến đổi thông thường, theo bốn mùa mà dẫn đi (1) [6].
Hàn nhiều thời “đọng rít”. Đọng rít thời hiện ra
sắc xanh và đen; nhiệt nhiều thời “loãng chảy”. Loãng chảy thời hiện ra sắc vàng
và đỏ. Nếu năm sắc cùng hiện ra một lúc, sẽ thành bệnh vừa hàn vừa nhiệt
[7].
Thiên năm mươi tám: KHI HUYẾT LUẬN
Hoàng Đế hỏi rằng:
Tôi nghe Khí huyết, có ba trăm sáu mươi nhăm huyệt, để ứng
với một năm, xin cho biết rõ là làm sao? [1]
Kỳ Bá thưa rằng:
Bối với Tâm cùng rút nhau vào mà đau, nên trị ở Thiên đột,
Thập trùy với Thượng kỷ. Thượng kỷ tức là Vị quản: Hạ kỷ tức là Quan nguyên (1)
[2].
Hoàng Đế chắp tay, nhường qua một bên, không dám nhận mà
nói [3]
Tà khí ở bối và Hung, nó liên lạc với âm, dương, tả, hữu
như vậy, phát sinh ra bệnh tiền hậu đau và rít, hung hiếp đau không thể thở,
không thể nằm, khi nhược lên, ngắn hơi và thiên thống [4].
Mạch của nó “phình to ra”, lệch sang, Khao môn mạch, chằng
qua Hung, Hiếp, rẽ vào Tâm suốt lên cách, vòng lên vai, qua Thiên đột, lệch
xuống dưới vai, giao ở dưới thập chùy (đốt xương sống thứ mười) [5].
Về Tàng du có năm mươi huyệt (Mỗi Tàng có năm huyệt. Năm
lần năm là hai mươi lăm huyệt, mỗi huyệt lại chia làm tả hữu hai huyệt. Nên mới
thành năm mươi huyệt) [6].
Phủ du bảy mươi hai huyệt (1) [7].
Sáu Phủ, mỗi Phũ 6 huyết, 6 x 6 = 36. Mỗi huyệt
lại chia làm tả hữu hai huyệt, nên mới thành 72 huyệt.
Nhiệt du năm mươi chín huyệt (1)
[8].
1) Ở trên đầu có 5 hàng, mỗi hàng 5 huyệt, thành
25 huyệt; Đại chữ. Ưng du, Khuyết bồn, Cốt du, mỗi huyệt có 2, thành 8 huyệt,
Khi nhai, Tam lý, Cự hư, Thượng hạ liêm, mỗi huyệt có 2, thành 8 huyệt; Vân môn,
Ngu cốt, Uûy trung, Tủy không, mỗi huyệt có 2, thành 8 huyệt, bên cạnh du của 5
Tàng, đều có 2 huyệt, thành 10 huyệt. Hợp cả lại thành 59
huyệt.
Thủy du năm mươi bảy huyệt (1)
[9].
1) Trên xương “khu” 5 hàng, mỗi hàng năm huyệt
thành 25 huyệt. Trên Phục thổ đều có hai hàng, mỗi hàng có 5 huyệt, thành 20
huyệt, trên Khỏa đều có 1 hàng, mỗi hàng có 6 huyệt, thành 12 huyệt. Tổng cộng
thành 57 huyệt. Trở lên cộng 116 huyệt.
Trên đầu năm hàng, mỗi hàng năm huyệt. Thành hai mươi lăm
huyệt (1).
1) Trên đây lại nói về huyệt của Nhiệt du một lần nữa, vì
Nhiệt du tức cũng là Khí huyệt. Do ở nó “có thể lấy khí có thể tả nhiệt” lại có
thể khiến nhiệt tà theo khí mà tiết ra, cho nên dưới đây lại nói: “Nhiệt du tại
khí huyết”.
Hai bên trung lữ đều có 5, thành 10 huyệt [10]. Trên hai
bên Đại trùy, đều có 1, thành 2 huyệt [11]. Phù bạch bên đồng tử mắt có 2 huyệt
[12]. Lưỡng bễ áp hai huyệt [13]. Độc Tỵ 2 huyệt [14]. Huyệt Đa sở văn ở giữa
tai, 2 huyệt [15] . My bản 2 huyệt [16]. Uyển cốt 2 huyệt [17]. Hàng trung ương
một huyệt [18]. Chẩm cốt 2 huyệt [19]. ) Thượng quan hai huyệt [20]. Đại
nghinh 2 huyệt [21]. Hạ quan hai huyệt. 23 Thiên trụ 2
huyệt [ 23]. Cự hư, thương, hạ liêm 4 huyệt [24]. Khúc nha 2 huyệt [25]. Thiên
đột 1 huyệt [26]. Thiên phủ 2 huyệt [27]. Thiên dũ 2 huyệt [28]. Phù đột 2
huyệt [29]. Thiên song 2 huyệt [30]. Kiên giải 2 huyệt [31]. Quan nguyên 1 huyệt
[32]. Uûy dương 2 huyệt [33]. Kiên trinh 2 huyệt [34]. Aâm môn 1 huyệt [35].
Tề 1 huyệt[36]. Hung du 12 huyệt [37]. Bối du 2 huyệt [38]. Ưng du 12 huyệt [39]. hận phục 2 huyệt [41]. Khỏa thượng hoành 2 huyệt [42].
Aâm, Dương kiêu 4 huyệt. Chiến hải + Thân mạch, Dương phụ
[42].
Thủy du ở các phân nhục, nhiệt du tại khi huyết
[43]. Hàn nhiệt du tại “lưỡng hài” (1) áp trung (Điều gốc) 2 huyệt
[44].
Một huyệt Đại cấm (cấm rất ngặt) 25 thích, ở
dưới huyệt Thiên phủ 5 tấc (1) [45].
Hoàng Đế nói:
Tôi đã được biết rõ Khí huyệt ở những nơi đâu,
nhờ có cách dùng châm rất được dễ dàng. Nhưng còn Tôn lạc và Khê, Cốc, tương ứng
như thế nào, xin cho biết... [47]
Kỳ Bá thưa rằng:
Tôn lạc có 365 huyệt hội, cũng để ứng với một
năm, vừa để thông Vinh, Vệ, có khi lại sinh những bệnh lạ lùng
[48].
Nếu Vinh, Vệ bị ngừng đọng. Vệ tán, vinh tràn,
khí kiệt, huyết nghẽn, thì bên ngoài sẽ phát hàn nhiệt, bên trong thời thành
thiểu khí... Phải “tả” ngay đừng chậm, để thông Vinh, Vệ.
Vậy thấy sắc. Lạc hiện lên thời tả ngay, không cần phải xét
đến “sở hội” (1) [49].
Hoàng Đế hỏi:
Xin cho biết huyệt hội của Khê, Cốc thế nào?
[50]
Kỳ Bá thưa:
Nơi đại hội của nhục gọi là Cốc, nơi tiểu hội của Nhục gọi
là Khê, ở trong khoảng phận nhục và nơi hội của Khê Cốc, là để hành Vinh, Vệ, để
tụ hội đại khí (1) [51].
Tà nhiều, khí nghẽn, mạch nhiệt, nhục bại, vinh vệ không
lưu hành được, sẽ phải hóa thành mủ, trong làm tiêu hao cốt tủy, ngoài làm nứt
vỡ bọng chân... Rồi lưu hành mãi ở các khớp xương, sẽ cùng gây nên tất bệnh
[42].
Hàn tích ở bên trong vinh vệ không thuận, thịt nhăn, gân
co, khuỷu tay không duỗi ra được. Bên trong thành chứng cốt tý, bên ngoài thành
chứng bất nhất. Gọi là “bất túc” đó là bởi khi đại hàn ngừng trệ ở Khê, Cốc mà
gây nên [43].
Khê và Cốc, 365 huyệt hội, cũng để ứng với một năm. Nếu khí
vít tầm thường, chí tràn lan đi lại ở trong mạch, châm nhẹ có thể tới, thời phép
châm cũng như các nơi khác [44].
Thiên năm mươi chín: KHI PHỦ LUẬN
Mạch khí, của Túc Thái dương phát ra 78 huyệt.
Hai đầu lông mày, mỗi bên một huyệt. Từ khoảng tóc tới cổ, ba tấc rưỡi, bên cạnh
có 5 huyệt, cùng cách nhau 3 tấc [1].
Thấy phù khí hiện lên ở trong bì (da), có 5 hàng
mỗi hàng có 5 huyệt. Năm lần năm, thành 25 huyệt. Hai bên đại cân ở cổ, mỗi bên
có một huyệt. Từ hiệp bối trở xuống đến Cầu Vỹ 21 tiết khoảng đốt thứ 15, nếu có
một huyệt. Du của 5 Tàng, mỗi Tàng đều có 5 Du, Du của 6 Phủ, mỗi phủ đều có 6
Du. Từ Uûy trung trở xuống đến cạnh Túc tiểu chỉ đều có 6 Du [2].
3) Mạch khí của Túc Thiếu dương phát ra 62
huyệt. Trên hai góc đầu (giác), mỗi bên đều có 2 huyệt, từ mắt thẳng lên phát
tế, đều có 5 huyệt, phía trước tai đều có 1 huyệt, phía sau tai đều có 1 huyệt,
dưới Nhuệ phát đều có một huyệt, dưới Khách chủ nhân đều có một huyệt, chỗ lõm
phía sau tai, đều có một huyệt, ở Hạ quan, đều có một huyệt, ở Khuyết bồn, đều
có một huyệt, ở dưới nách 3 tấc, từ Hiệp đến Khư, 8 khoảng, đều có một huyệt,
bên cạnh Bễ khu đều có một huyệt, từ đầu gối đến ngón chân thứ hai, đều có 6 Du
[3].
Mạch khí của Túc Dương minh phát ra 68 huyệt,
Đầu trán và cạnh phát tế đều có 3 huyệt, hai bên Cầu cốt không đều có một huyệt,
nơi cốt không của huyệt Đại nghinh, đều có một huyệt tại Nhân nghinh, đều có một
huyệt, tại Khuyết bồn ngoài Cốt không đều có một huyệt, tại Ưng trung gian đều
có một huyệt. Giáp Tể quảng 3 tấc, đều có 3 huyệt, tại Khí nhai động mạch, đều
có một huyệt, tại trên Phục thổ đều có một, từ Tam lý trở xuống đến ngón chân
giữa đều có 8 Du [4].
Mạch khí của Thủ Thái dương phát ra 36 huyệt.
Phía trong đầu, mắt đều có một huyệt. Phía ngoài mắt đều có một huyệt, dưới Cầu
cốt đều có một huyệt, trên vành tai, đều có một huyệt, trong tai, đều có một
huyệt, tại huyệt Cự cốt đều có một huyệt, tại trên Khúc dịch đều có một huyệt,
tại chỗ lõm trên Trụ cột, đều có một huyệt, tại Kiên giải, đều có một huyệt,
dưới Kiên giải 3 tấc, đều có một huyệt, từ khuỷu trở xuống đến cuối ngón tay út
đều có 6 Du [5].
Mạch khí của Thủ Dương minh phát ra 22 huyệt. Từ
Tỵ không ngoại liêm đến trên cổ đều có 2 huyệt, tại đại nghinh cốt không đều có
một huyệt, tại nơi hội của Trụ cốt, đều có một huyệt, tại nơi hội của Ngu cốt,
đều có một huyệt, từ khuỷu trở xuống đến cuối ngón tay cái, đều có 6 Du
[6].
Mạch khí của Thủ Thiếu dương phát ra 32 huyệt.
Dưới Cứu cốt, đều có một huyệt, sau lông mày đều có một huyệt. trên “giác” đều
có một huyệt, phía sau Hạ hoàn cốt, đều có một huyệt, giữa cổ, phía trước huyệt
của Túc Thái dương, đều có một huyệt, tại cạnh Phù đột, đều có một huyệt, tại
Kiên trinh, đều có một huyệt tại dưới Kiên trinh khoảng dưới 3 tấc, đều có một
huyệt, từ khuỷu trở xuống đến cuối ngón tay vô danh đều có 6 Du [7].
Mạch khí của Đốc mạch phát ra 28 huyệt. Khoảng
giữa cổ đều có 2 huyệt, sau Phát tế có 8 huyệt, tại giữa mặt có huyệt, Từ Đại
Trùy trở xuống đến Cầu vĩ và bên cạnh, có 15 huyệt. Về phép kiểm nhận tích trùy
(đốt xương sống), từ Đại trùy trở xuống đến Để cốt, cộng 21 đốt, (trên Đại trùy
có 3 đốt nữa, cộng thành 24 đốt, Có người nói là ứng với 24 khí) [8].
Mạch khí của Nhâm mạch phát ra 28 huyệt. Khoảng
giữa Hầu, 2 huyệt, tại Ung trung cốt, Hãm trung, đều có một huyệt tại dưới Cưu
vĩ hai tấc, tại Vị oản 5 tấc, từ Vị oản trở xuống đến Hoành cốt một tấc rưỡi,
linh một phân. Đó là Phúc mạch pháp vậy (phép chẩn mạch tại phúc bộ), tại Hạ âm
riêng có một huyệt, dưới mắt đều có một huyệt, dưới môi có một huyệt, tại “lợi”
răng có một huyệt [9].
Mạch khí của xung mạch phát ra 22 huyệt. Ngoài
Cưu vĩ mỗi bên đều nửa tấc, đến khoảng rốn, cùng cách nhai một tấc, đều có một
huyệt. Từ bên cạnh rốn trở xuống, mỗi bên đều có 5 phân, đến Hoành cốt một tấc,
có một huyệt. Đó là Phúc mạnh pháp vậy [10].
Mạch của Túc Thiếu âm phát ra ở dưới lưỡi
[11].
Cấp mạch ở mao trung Quyết âm, đều có một huyệt
[12].
Thủ Thiếu âm điều có một huyệt [13].
Aâm, Dương kiêu đều có một huyệt
[14].
Mạch khí phát ra ở Thủ, Túc Ngư tế, cộng ba
trăm sáu mươi lăm huyệt [15].
Thiên sáu mươi: CỐT KHÔNG LUẬN
Hoàng Đế hỏi rằng:
Tôi nghe: phong là một thứ bắt đầu sinh ra trăm
bệnh. Dùng châm để điều trị, nên như thế nào? [1]
Kỳ Bá thưa rằng:
Phong từ ngoài vào, khiến người rét run, hãn ra,
đầu nhức mình nặng, ố hàn. Nên trị tại Phong phủ, làm cho âm dương điều hòa. Bất
túc thời bổ, hữu dư thời tả [2].
Đại phong phạm vào người, khiến cho gáy, cổ
đau, nên thích ở Phong phủ. Huyệt Phong phủ tại thượng trùy (Phong phủ tức là
huyệt của Đốc mạch) [3].
Đại phong phạm vào người, hãn ra. Cứu ở huyệt Y
hy. Huyệt Y hy tại dưới bối cách đường xương sống 3 tấc, lấy tay
áp mạnh vào, bảo bệnh nhân kêu to lên hai tiếng “y hy”, huyệt sẽ bật lên ở dưới
tay [4].
Nếu thấy gió mà ghê gió, thích ở
đầu lông mày [5].
Nếu gáy đau không gối được, thích
khoảng Hoành cốt tại trên vai [6].
Nếu lưng đau như gãy xuống, dùng
tay buông thõng xuống, ngang với đầu khủyu tay, chiếu ra xương sống, sẽ cứu ở
đấy [7].
Đau ở Diểu lạc, qúi hiếp, lan ra
Thiếu phúc, vừa đau vừa, trướng, thích ở huyệt Y hy [8].
“Yêu” đau không thể cúi ngửa, đau
rút xuống âm nóãn, thích luật biểu ở phận giác ở lưng [9].
Chứng Thử lậu, phát hàn nhiệt,
thích ở Hàn phủ. Huyệt Hàn phủ tại gần huyệt Giải vinh ở đầu gối. Nếu muốn lấy
huyệt Uûy trung tại sau gối (khuỷu, kheo) thời bảo đứng “vái” (Vì đứng vái thì
ưỡn thẳng kheo ra, dễ lấy huyệt), muốn lấy ở túc tâm thời bảo quì (túc tâm tức
là huyệt Dũng toàn. Quì thời chia hẳn lòng bàn chân ra, thấy được huyết ngay)
[10].
Nhâm mạch phát sinh từ phía dưới
Trung cực lên tới Mao tế, vòng phúc lý, lên quan nguyên, đến Yết hầu, qua mép
vòng lên mắt [11].
Xung mạch phát sinh từ Khí nhai,
cùng với kinh Thiếu âm qua Tể dẫn lên, đến Hung thời chia đi
[12].
Nhâm mạch mắc bệnh, ở con trai
bên trong kết thành bảy chứng Sáu, ở con gái, sinh chứng Đái hạ và Giả tụ
[13].
Xung mạch mắc bệnh, khí nghịch và
lý cấp [14].
Đốc mạch mắc bệnh, xương sống
cứng và đau như gãy [15].
Đốc mạch phát sinh từ Thiếu phúc,
ở khoảng giữa hạ cốt [16].
Về con gái, buộc vào Đình khổng
(tức âm hộ), chỗ, “khổng” đó, tức là gốc của Niệu khổng. Lạc của nó, vòng âm
khi, hợp với Thoán gian, quanh ra Thoán hậu, chằng xuống diễn, đến thiếu âm với
Cự dương. Về trung lạch hợp với Thiếu âm, dẫn lên phía sau vế, xuất lên “tích”
rồi nóái vào Thận. Cùng với mạch của kinh Thái dương khởi ở phía trong đầu mắt,
lên trán, qua đỉnh đầu, chằng vào óc, rồi quanh xuống cổ, vòng xuống vai, qua
tích đến yêu, giáp với Lữ và chằng vào Thận [17].
Về con trai, theo hành (tức sinh
thực khí) đến Thoán, cũng giống con gái. Một đường do Thiếu phục dẫn lên, qua
giữa rốn, suốt Tâm, tới Hầu, lên mép, vòng môi rồi buộc lên phía dưới hai mắt
[18].
Bệnh phát sinh ở mạch nầy, từ
Thiếu phúc xung lên Tâm mà đau, không đại tiểu được, đó gọi là Xung sán, ở con
gái thời không thụ thai. Nếu phát ở tiền, hậu âm thời sẽ là các chứng long (tiểu
buốt). Trĩ, di nịch, và ách can [19].
Đốc mạch phát bệnh, trị ở Đốc mạch, huyệt tại
cốt thượng, quá lắm thời thích ở Tề hạ Doanh [20].
Nếu thượng khí trở thành tiếng, trị ở giữa Hầu,
hoặc tại giữa Khuyết Bổn. Nếu bệnh xung lên Hầu, nên trị ở Tiệm. Tiệm là nơi
phân chi của Đốc mạch, ở gần mép [21].
Đầu gối như bận bịu khó co duỗi, nên trị ở
“Kiền”, ngồi mà đầu gối đau, nên trị ở “Cơ” (Kiền với Cơ tức là chỗ cơ quan,
khớp xương) [22].
Đứng mà thấy nóng ở trong xương, nên trị ở Hài
gian [23].
Đầu gối đau, đau suốt xuống ngón chân cái, nên
trị ở quắc trung [24].
Ngồi mà đầu gối đau như vật gì bám vào nên trị
ở quan [25].
Đầu gối đau không thể co duỗi nên trị ở Bối
nóäi [26].
Đầu gối đau suốt xương ống như muốn gãy, trị ở
Dương minh Trung du dao.
Nếu muốn trị sang nơi khác thời trị ở Cự dương,
Thiếu âm Doanh [27].
Oáng chân đau nhức không thể đứng lâu, trị ở
Duy của Thiếu dương, huyệt này tại trên Ngoại khỏa 5 tấc Quang minh
[29].
Trên Phụ cốt, dưới Hoành cốt là Kiền, giáp
Khoan là Cơ. Tất giải là Hài quan, cái xương liền với gối là Liên hài, trên Hài
là Phụ, trên Phụ là Quắc. Trên Quắc là quan, xương nằm ngang phía sau đầy là
Chẩm [30].
Thủy du có năm mươi bảy huyệt là: trên chân có 5
hàng, mỗi hàng 5 huyệt, trên Phục thổ có 2 hàng, mỗi hàng 5 huyệt, tả hữu mỗi
bên đều có một hàng, mỗi hàng 5 huyệt, trên khỏa đều có một hàng, mỗi hàng có 6
huyệt [31].
Huyệt Tủy không, tại sau Não, 3 phân, và tại
dưới Lô tế, Nhuệ cốt. Một đường tại dưới ngân cơ, một đường tại dưới Trung phục
cốt phía sau cổ; một đường tại nơi rỗng không ở Tích cốt; và tại trên phong phủ
dưới nơi rỗng không ở Tích cốt, lại ở nơi rỗng không tại dưới Cầu cốt [32]. Vài
huyệt Tủy không tại mặt gần mũi hoặc miệng, xuống gần hai vai [33]. Cốt không ở
hai bắp tay, tại cảnh bắp tay [34]. Tý cốt không ở cạnh Tý, cách khỏa 4 tấc, ở
vào khoảng giữa hai cốt không [35]. Cốt không của vế cạnh Vế, phía trên gối 4
tấc. Yêu tế cốt không tại phía động mạch áp chân lông [36]. Cầu cốt không tại
phía sau Bễ cốt, cách nhau 4 tấc [37]. Biển cốt (thứ xương giẹp, như xương mặt,
không có Tủy khổng, không có dịch tủy (thay đổi tủy) nhưng bên ngoài cũng cân
mạc và các chất thấm nhuần, một loại với các xương khác [38].
Về phép cứu chứng hàn nhiệt, trước cứu Đại trùy
ở cổ, tính theo tuổi làm “tráng” (mỗi lượt gọi là mỗi tráng, như 10 tuổi thì 10
tráng v.v). Rồi cứu đến quyết cốt (tức Vĩ cùng, đều thuộc Đốc mạch), cũng tính
“tráng” như trên. Trông xem chỗ lõm ở Bối du, để cứu ở đó. Cứu ở đầu Hoa cốt
trên ngoại khỏa. Cứu ở khe ngón chân út với ngón vô danh giáp nhau. Cứu ở hãm
mạch dưới bộng chân. Cứu ở phía sau ngoại khỏa. Aùn tay vào trên xương Khuyết
bồn, thấy cứng và đau như mới có cai gân nóåi lên, nên Cứu ngay ở đó. Cứu ở
khoảng hãm cốt tại Ưng trung. Cứu ở dưới Thúc cốt tại bàn tay. Cứu ở dưới 3 tấc
huyệt quan nguyệt tại dưới rốn. Cứu ở Động mạch tại mao tế. Cứu ở dưới xương đầu
gối 3 tấc. Cứu ở động mạch thuộc Túc Dương minh tại trên xương khoai. Cứu ở đỉnh
đầu một tráng. Nơi chó cắn, Cứu 3 tráng, đó tức là lấy phương pháp, trị bệnh chó
cắn để cứu (1) [39].
Phàm nên cứu, tổng cộng 29 huyệt, Lại có thể
dùng phương pháp Cứu thương thực để Cứu (2) [40].
Nếu chưa khỏi, nên nhằm cái kinh của nó hướng về
Dương, thời nên luôn thích ở Du, và cho uống thuốc thêm (3) [41].
Thiên sáu mươi mốt: Thủy nhiệt huyệt luận
Hoàng Đế hỏi:
Thiếu âm sao lại chủ về Thận? Thận sao lại chủ
về Thủy? [1]
Kỳ Bá thưa rằng:
Thận, thuộc về Chí âm; Chí âm là nơi để chứa
Thủy, Phế thuộc về Thái âm. Thiếu âm mạch thuộc về mùa Đông. Cho nên gốc nó ở
Thận mà ngọn nó là Phế. Đều là những nơi chứa nước [2].
Thận sao lại có thể tụ được Thủy mà sinh ra
bệnh? [3]
Thận là cửa của Vị, vì “quan môn” không lợi nên
mới tụ thủy và theo về cùng loài của nó [4].
Làm quá sức nhọc mệt; thời Thận hãn toát ra.
Thận hãn toát ra mà gặp gió, trong không thể lọt vào Tàng phủ; ngoài không thể
vượt ra bì phu. Khách (1) ở Huyền phủ, dẫn đi ở trong bì, truyền làm chứng phù
thũng, gốc nó ở thận, gọi là Phong thủy Huyền phủ tức là lỗ hổng cho hãn toát
ra.
Hoàng Đế hỏi:
Thủy du năm mươi bảy nơi, nó chủ về gì?
[6]
Kỳ Bá thưa rằng:
Thận du năm mươi bảy huyệt, là nơi tụ của tích
âm, thủy do đó mà ra vào. Tại cầu thượng có 5 hàng mỗi hàng có 5 huyệt, đều là
Thận du. Cho nên, thủy dẫn xuống thành phù thũng, ở đại phúc thành chứng thở
suyễn, không thể nằm. Vì “Tiêu, bản” đều mắc bệnh, nên mới có chứng “suyễn thở”
và “phù thũng”, do thủy khí không du chuyển mà gây nên (1) [7].
Trên Phục thổ có hai hàng, mỗi hàng 5 huyệt. Đó
là khí nhai của Thận, và là nơi giao kết tại chân của ba kinh âm [8].
Trên “khỏa” đều có một hàng, mỗi hàng 6 huyệt.
Đó là đường lối dẫn xuống của thận mạch, gọi là Thái xung. Tất cả 57 huyệt đó,
đều là âm lạc của Tàng, mà Thủy “khách” vào đó [9].
Hoàng Đế hỏi:
Mùa xuân thích ở Lạc mạch, phận nhục, là vì cớ
sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
Mùa xuân, hành mộc mới bắt đầu thống trị Can khí
mới sinh. Can bẩm thụ cái khí phong mộc, nên “cấp, tật” (kíp, chóng); Kinh mạch
do Đông lệch phục tàng ở sâu, giờ gặp xuân khí mới ra, nên khí còn ít. Vậy dùng
châm, không thể vào sâu, để lấy ở Kinh, mà chỉ lấy “Nóâng” ở nơi Lạc mạch phận
nhục (1).
Mùa Hạ thích ở thịnh kinh và phận tấu, là vì
sao? [12]
Về mùa Hạ, hành Hỏa mới trị thời Tâm khí mới
sinh trưởng. Mạch còn nón, khí còn yếu. Dương khí ứ ràn, nhiệt hun phận tấu, bên
trong lấn vào tới Kinh. Cho nên phải thích ở kinh phận tấu. Làm đứt hẳn lối đi
của tà ở ngoài bì phu vì là nó còn ở chỗ nóâng. Trên nói là “thịnh kinh”, vì
dương đương thịnh ở đó [13].
Mùa Thu, thích ở Kinh du, là vì sao?
[14]
Về mùa Thu, hành Kim mới trị thời, Phế khí sắp
thâu sái, kim khí sắp phát triển, Dương khí ở nơi hợp, âm khí mới sinh ra. Thấp
khí nhiễm vào thân thể, âm khí chưa toàn thịnh, chưa thể vào sâu, cho nên thích
ở Du để tả âm tà, thích ở Hợp để hư dương tà. Dương khí mới suy, nên thính ở Hợp
(1) [15]
Mùa Đông, thích ở Tỉnh, Vinh là vì
sao?
Về mùa Đông, hành Thủy mới trị thời. Thận mới
“bế” (đóng, như đóng cửa), dương khí suy ít, âm khí thịnh nhiều. Cự dương phục
trầm, dương mạch cũng lánh dương phận để quy phụ về bên trong. Cho nên thích ở
Tỉnh để hạ khí âm nghịch xuống, thích ở Vinh để làm cho Dương khí được đầy đủ.
Cho nên có câu rằng: “mùa Đông thích ở Tỉnh, Vinh, “mùa Xuân không sinh chứng
Cừu nục” là vì lẽ đó.
Hoàng Đế hỏi:
Phu tử nói trị nhiệt bệnh 59 Du, là những gì?
Xin cho biết rõ [18].
Kỳ Bá thưa rằng:
Trên đầu 5 hàng, mỗi hàng có 5
huyệt để làm vượt bỏ nhiệt nghịch của chư dương. Đại chữ, Ưng du, Khuyết bồn,
Bối du, 8 huyệt đó (vì mỗi huyệt chia làm hai bên mỗi bên một huyệt, mới thành
tám), để tả bỏ nhiệt ở trong Hung. Khí nhai, Tam lý, Cự hư, Thượng hạ liêm, 8
huyệt đó (cũng như trên) để tả bỏ nhiệt ở trong Vị. Vân môn. Ngung cốt, Uûy
trung, Tủy không 8 huyệt đó (như trên) để tả bỏ nhiệt ở tứ chi
[19].
Bên cạnh Du, của năm Tàng đều có
năm huyệt 10 huyệt đó để tả bỏ nhiệt của năm Tàng. Phàm 59 huyệt trên đó, đều
theo nhiệt ở tả hữu để tả [20].
Người bị thương về khí hàn mà
truyền thành bệnh nhiệt, là vì sao? [21]
Vì Hàn quá thời sẽ thành nhiệt (1)
[22]
Thiên sáu mươi hai: ĐIỀU KINH
LUẬN
Hoàng Đế hỏi:
Ta nghe nói về phép thích “hữu dư
thời tả, bất túc thời bổ”, vậy thế nào là hữu dư và bất túc?
[1]
Kỳ Bá thưa rằng:
Hữu dư có năm loại, bất túc có năm
loại. Vậy Hoàng Đế muốn hỏi về loại nào ? [2]
Xin cho biết cả.
[3]
Thần, có hữu dư, có bất dư, có bất
túc, huyết; có hữu dư, có bất túc; hình, có hữu dư, có bất túc... Tất cả 10 loại
đó, khí đều không giống nhau [4].
Hoàng Đế hỏi:
Người có tinh, khí, tân dịch, tứ
chi, cửu khiếu, năm Tàng, mười sáu bộ, ba trăm sáu mươi tiết... Bấy giờ mới sinh
ra trăm bệnh. Trăm bệnh sinh ra đều có hư thực. Giờ phu tử lại nói “hữu dư, bất
túc” đều có năm, vậy lấy gì để sinh ra trăm bệnh? [5]
Đều sinh ra bởi năm Tàng. Nghĩ
như: Tâm tàng Thần, Phế tàng khí, Can tàng Huyết, Tỳ tạng Nhục, Thận tàng chí...
Để gây thành hình ấy. Chỉ khí thông với nhau, trong liền với cốt tủy, rồi sau
mới thành được thân hình. Cái đường lối của năm Tàng, đều ra từ kinh toại, để
lưu hành khí huyết. Nếu khí huyết không điều hòa, trăm bệnh sẽ biến hóa sinh ra.
Vậy về phương pháp điều trị, cần phải chú trọng về kinh toại
[6].
Thần, hữu dư và bất túc, thời thế
nào? [7]
Thần hữu dư thời cười không ngớt,
bất túc thời bi “thương, buồn” (1) [8].
Bổ, tả như thế nào?
[9]
Hữu dư thời tả bỏ huyết ở tiểu
lạc, cho xuất huyết nhưng đừng thích sâu, e sẽ trúng vào Đại kinh. Như thế, thần
khí sẽ quân bình. Thần bất túc, thời trông cái hư lạc, án vào huyệt để cho khí
đến, rồi thích vào lạc cho huyết được thông lợi. Đừng để cho xuất huyết, đừng để
cho tiết khí, cốt làm cho thông hơi kinh mạch. Như thế, thần khí sẽ quân bình
[10].
“Thích vi” như thế nào? (tức thích
lúc sơ cảm)... [11]
Trước hãy án ma vào huyệt đừng rời
tay, rồi sẽ dùng châm, nhưng đừng mạch, khiến cho tà khí dịch tới chỗ bất túc,
thần khí sẽ hồi phục (1) [12].
Khí, hữu dư, bất túc như thế nào?
[13]
Khi hữu dư thời suyễn, khái và
thượng khí, bất túc thời khi thở và thiếu khí [14].
Huyết khí chưa dồn, năm tàng an
định, bì phu hơi mắc bệnh gọi là “bạch khí hội tiết” [15].
Bổ, tả như thế nào?
[16]
Khí hữu dư thời tả ở Kinh toại,
đừng làm thương đến Kinh, đừng làm cho xuất huyết, đừng làm cho tiết khí. Bất
túc thời bổ ở Kinh toại, đừng để cho xuất khí (tức là tiết mất khí của Kinh
toại) [17].
“Thích vi” như thế nào?
[18]
Aùn ma đừng rời tay, cầm châm,
trông kỹ để định nóâng sâu. Thích vừa đúng, kinh khí sẽ hồi phục, tà khí khỏi
tán loạn; do đó, tà khí tiết cả ra bì mao tấu lý, lại được quay trở về phu biểu,
mà bệnh sẽ khỏi [19].
Huyết, hữu dư, bất túc, như thế
nào? [20]
Hữu dư thời nóä; bất túc thời
khủng. Huyết khí chửa dồn, năm Tàng an định; Tôn lạc nước ràn (nước tân dịch),
thời Kinh có lưu huyết [21].
Bổ, tả như thế?
Huyết hữu dư thời tả ở thịnh kinh,
để xuất huyết. Nếu bất túc, thời trông như ở hư kinh, để châm trong mạch, ngâm
lâu để trông; nếu mạch nhanh quá, thời xuất châm, đừng để cho huyết ra (1)
[22].
Thích “lưu huyết” như thế nào?
[23]
Trông ở huyết lạc, thích cho xuất
huyết; đừng để cho ác huyết được lọt vào Kinh, để gây nên bệnh
[24].
Hình, hữu dư, bất túc như thế nào?
[25]
Hình hữu dư thời phúc trướng, tiểu
thủy không lợi; bất túc thời tứ chi không cử động được. Huyết khí chưa dồn, năm
Tàng an định, cơ nhục nhu động (cồn lên, như sâu bò trong thịt), gọi là vi phong
[26].
Bổ tả như thế nào?
[27]
Hình hữu dư thời tả ở Dương kinh;
bất túc thời bổ ở Dương lạc (1) [28].
“Thích vi” như thế nào?
[29]
Thích ở khoảng phận nhục, đừng để
trúng kinh, đừng làm thương Lạc. Vệ khí hồi phục được, tà khí sẽ bị tan đi
[30].
Chí, hữu dư, bất túc như thế nào?
[31]
Chí hữu dư thời phúc trướng, xôn
tiết, bất túc thời Quyết (1) [32].
Huyết khí chưa dồn, năm tàng an
định, cốt tiết có động (vì bị phong phạm vào, nên động) [33].
Bổ, tả như thế nào?
[34]
Chí hữu dư thời tả bổ huyết ở
huyệt Nhiên cân (tức là Nhiên cốc, và Vinh huyệt thuộc Túc thiếu âm) bấc túc
thời bổ Huyệt lưu (túc kinh huyệt của túc thiếu âm). Phục lưu
[35].
Thích từ lúc huyết khí chửa dồn
như thế nào? [36]
Thích ngay ở chỗ “động” tại cốt
tiết, nhưng đừng để trúng kinh, tà sẽ hư suy ngay [37].
Hoàng Đế hỏi:
Tôi đã được nghe cái hình về hư
thực rồi, vậy xin cho biết vì đâu mà sinh ra? [38]
Kỳ Bá thưa:
Huyết khí đã dồn, âm dương cùng
xung đột nhau, khí loạn ở Vệ, huyết nghịch ở kinh, huyệt khí ở lìa sẽ sinh ra
một thực một hư (1) [39].
Kinh văn: Huyết ở vào Aâm, khí dồn
vào Dương, nên phát thành kinh cuồng [40].
Huyết dồn lên trên, khí dồn xuống
dưới, sẽ thành chứng Tâm phiền, uất, hay nóä. Huyết dồn xuống dưới, khí dồn lên
trên, tinh thần sẽ loạn mà hay quên [42].
Huyết dồn vào Aâm, khí dồn vào
Dương, thời như thế! Còn huyết khí lìa nhau thời thế nào là thực, thế nào là hư?
[43]
Huyết khí là một đầu thính “hỷ ôn
mà ố hàn”. Hàn thời ngừng trệ mà không lưu thông, ôn thời sẽ tiêu tan mà lưu
thông. Vậy nên nếu khí dồn vào, sẽ thành huyết hư, huyết dồn vào, sẽ thành khí
hư (1) [44].
Hoàng Đế hỏi:
Ở trong con người chỉ có khí với
huyết mà thôi. Giờ phu tử lại nói: “huyết dồn là hư, khí dồn là hư...” vậy là
không có “thực” chăng? [45]
Kỳ Bá thưa:
“Hữu” thời là thực, “vô thời là
hư, cho nên khí dồn thời không có huyết, huyết dồn thời không có khí. Giờ huyết
với khí cùng trái nhau nên đều là hư [46].
Lạc với Tôn lạc đều rót vào Kinh.
Huyết với khí dồn, thời sẽ là thực. Huyết cùng với khí dồn cả lên trên, thời là
đại quyết. Quyết thời bạo tử. Nếu khí trở lại thời sống, không trở lại thời chết
(1).
Hoàng Đế hỏi:
Thực, do đường nào lại; hư, do
đường nào đi?... Cái cốt yếu của hư thực thế nào, xin cho biết
rõ.
Kỳ Bá thưa rằng:
Aâm với Dương đều có Du hội. Dương
rót vào âm, âm ràn ra ngoài. Aâm dương quân bình, để nuôi thân hình, chín hậu
như một, sẽ là bình nhân (1).
Phàm bệnh tà sinh ra hoặc sinh ra
bởi âm, hoặc sinh ra bởi dương. Cái sinh ra bởi dương, phần nhiều do phong, vũ,
hàn, thử cái sinh ra bởi âm, phần nhiều do ẩm thực, cư xử, và âm dương, hỷ nóä
[50].
Hoàng Đế hỏi:
Phong, vũ làm thương đến con
người, như thế nào? [51]
Phong, vũ làm thương con người,
trước “khách” ở bì phu, truyền vào đến Tôn mạch, Tôn mạch đầy, lại truyền vào
lạc mạch, lạc mạch đầy, thời chuyển du vào đại kinh mạch. Huyết khí với tà khí,
cùng “khách” cả ở khoảng phận nhục và tấu lý, mạch nó kiên đại nên gọi là
“thực”. Thực là một trạng thái bên ngoài kiên và sung mãn, không thể án tay vào.
Aùn tay vào thời lý khí có thể ứng ra mà làm cho ôn, nên dễ chịu mà không đau
[52].
Hàn, thấp làm thương đến con
người, như thế nào? [53]
Hàn, thấp trúng vào người, bì phu
bất nhân, cơ nhục kiên khẩn (rắn, lẳn), vinh huyết rít lại, vệ khí tan đi, cho
nên mới thành hư. Hư là do bị tích ở bên trong, khiến khí bất túc. Aùn tay vào,
thời lý khí có thể ứng ra mà làm cho ôn, nên dễ chịu mà không đau
[54].
Aâm sinh ra thực, như thế nào?
[55]
Hỷ, nóä không tiết thời âm khí
nghịch lên, nghịch lên thời dưới hư, dưới hư thời dương khí sẽ tẩu tán, cho nên
nói là “thực” [56].
Aâm sinh ra hư, như thế nào?
[57].
Hỷ thời khí giáng xuống, bi thời
khí tiêu đi, tiêu thời mạch hư không, nhân uống ăn phải thức hàn, hàn khí tràn
lan thời huyết sẽ rít lại, khí sẽ tiêu đi... Nên gọi là hư.
Kinh nói: “Dương hư thời ngoại
hàn, âm hư thời nóäi nhiệt, dương thịnh thời ngoại nhiệt, âm thịnh thời nóäi
hàn...” Tôi đã được nghe rồi. Vậy nguyên nhân nó bởi sao? [59]
Dương “thu” khí ở Thượng tiêu, để
làm “ôn” cho khoảng bì phu phận nhục. Giờ hàn khí phạm ở bên ngoài, thời Thượng
tiêu sẽ không thông. Thượng tiêu không thông, thời hàn khí riêng chiếm ở ngoài,
cho nên thành chứng “hàn tật” (rét run) [60].
Do việc gì khó nhọc mỏi mệt, hình
khí suy ít, cốt khí không được thịnh, Thượng tiêu không vận hành được cốc khí,
Hạ tiêu không tiếp thu được tân dịch, do cái khí dương nhiệt của Vị bị nghẽn
không bố tán đi đâu được, sẽ hun dồn cả lên Hung, mà thành chứng nóäi nhiệt
[61].
Dương hư sinh ngoại nhiệt là thế
nào? [62]
Thượng tiêu không thông lợi, thời
bì phu chặt kín, tấu lý vít lấp, huyết phủ không thông vệ khí không thể tiết
việt được, nên mới thành chứng ngoại nhiệt [63].
Aâm thịnh sinh nóäi hàn, là thế
nào? [64]
Quyết khí nghịch lên, hàn khí tích
ở trong Hung, mà không tả ra được. Không tả ra được thời ôn khí sẽ bị tan đi,
chỉ còn có hàn khí một mình ở lại, huyết do đó mà đọng rít. Đọng thời mạch không
thông. Nó sẽ biến thành thịnh, đại và sắc, cho nên trung hàn
[65].
Aâm với Dương, dồn vào nhau, huyết
khí cũng dồn, bệnh tình sẽ do đó mà gây nên. Nên thích thế nào?
[66]
Thích bệnh này, nên lấy ở Kinh toại, lấy huyết ở
Doanh, lấy khí ở Vệ... Lại phải dùng cả thân hình nữa, nhân bốn mùa mà thích
hoặc nhiều hoặc ít, hoặc cao, hoặc thấp...(1) [67].
Huyết khí đã dồn, bệnh hình đã thành, âm dương
đã lệch (không quân bình), nên bổ tả như thế nào? [68]
Muốn tả thực, chờ cho khí thịnh, sẽ “nạp” châm.
Châm với khí cùng nạp (tức thích vào) để mở cửa cho tinh khí lưu ở trong rồi
châm với nhiệt tà cũng rút ra, như thế, tinh khí sẽ không bị thương, mà tà khí
cũng giáng xuống, đừng vít lỗ châm, cho bệnh rút ra, lại xoay chuyển mũi châm,
cho đường lối thêm rộng, đó tức là phương pháp đại tả. Kíp dồn cho ra, đại khí
(tức tà khí) mới ra [69].
Bổ hư thế nào? [70]
Tay cầm châm, chú ý vào châm. Chờ lúc bệnh nhân
thở ra (hô) sẽ nạp châm, chờ lúc bệnh nhân hút vào sẽ rút châm. Lúc nạp châm
đừng xoay chuyển, khiến tinh khí không thể tiết ra được, chờ lúc chính khí đã
thực sẽ kíp rút châm, lựa cho chính khí lọt vào, giữa lúc châm vừa rút ra thời
nhiệt tà không thể lại lọt vào trong. Khí môn ở bên trong đã nóng thời tà khí sẽ
phải bố tán ở bên ngoài, mà tinh khí sẽ còn giữ được mãi. Dưới chân khí động,
đợi lúc đến nơi, khiến cái khí “thiển cận” không tán thất ra bên ngoài, cái khí
“thâm viễn” được giữ yên ở bên trong. Đó tức làm một phương pháp bổ chính mà lạ
kiêm cả tán tà vậy [71].
Hoàng Đế hỏi:
Phu tử nói hư thực có mười loại, sinh ra bởi năm
Tàng. Năm Tàng chỉ có năm mạch thôi. Ngẫm như mười hai kinh đều sinh ra bệnh,
giờ Phu tử chỉ nói riêng năm Tàng. Vậy mười hai kinh -mạch kia đều “lạc” ba trăm
sáu mươi nhăm tiết (khớp xương). Mỗi tiết đều có bệnh tật phải lây sang Kinh
mạch. Bệnh ở Kinh mạch đều có hư thực, vậy lẽ đó thế nào? [72]
Kỳ Bá thưa rằng:
Năm Tàng hợp với sáu Phủ cùng làm biểu lý. Kinh
mạch chi tiết, đều sinh hư thực. Hễ bệnh ở nơi nào, sẽ theo ngay nơi đó để triï.
Bệnh tại mạch, điều trị ở huyết; bệnh tại huyết điều trị ở Lạc, bệnh tại khí
điều trị ở Vệ, bệnh tại nhục, điều trị ở phận nhục; bệnh tại cân điều trị ở cân,
bệnh tại cốt, điều trị ở cốt [73].
Phân châm (đem châm đốt cho nóng) để thích ngay
vào nơi bệnh cấp, nếu bệnh tại cốt, thời đốt châm cho nóng “nhúng” vào nước
thuốc rồi sẽ châm, châm rồi, lại dùng thuộc để “chườm” (1) [74]
Bệnh đau, mà không biết đau ở đâu, nên thích ở
trên lưỡi Kiểu. (Đau một cách lan man, không nhất định là nơi nào. Kiểu mạch
khởi từ Tức khỏa) [75].
Thân hình có nơi đau, mà xét ở chín “hậu” lại
không có bệnh, thời dùng phép Mậu thính (1) [76].
Đau ở bên tả mà mạch bên hửu mắc bệnh, dùng phép
Cự thích để điều trị. Phải cẩn thận tinh tế xét ở chín hậu, thời đối phép châm
sẽ được hoàn toàn (1) [77].
Thiên sáu mươi ba: MẬU THÍCH LUẬN
Hoàng Đế hỏi:
Ta nghe phép Mậu thích, chưa hiểu ra sao, xin
cho biết rõ thế nào là Mậu thích ? [1]
Kỳ Bá thưa rằng:
Tà khí “khách” ở thân hình con người, trước tụ ở
bì mao, lưu ở đó không tan đi, lại vào tụ ở Tôn mạch lưu ở đó không tan đi, lại
vào tụ ở Lạc mạch ở đó không tan đi, lại vào tụ ở kinh mạch, khi đó bên trong sẽ
liền với năm Tàng, bố tán ra Trường Vị, âm dương đều thịnh, năm Tàng sẽ thương.
Đó là tà khí bắt đầu phạm ở bì mao, rồi cuối cùng vào tới năm Tàng. Như thế thời
điều trị ở Kinh (1) [2].
Giờ tà khí khách ở bì mao, vào tụ ở Tôn lạc lưu
ở đó mà không tan đi, vít lấp không thông, không được truyền vào Kinh, mà trôi
ràn vào Lạc, vì vậy mà gây nên bệnh [3].
Tà khí, “khách” ở đại lạc, nếu ở bên tả, sẽ rót
sang bên Hữu, ở bên hữu sẽ rót sang bên tả. Trên dưới, tả hữu, cùng giao thông
với kinh tương ứng để bố tán ra tứ chi. Cái khí đó không ở chuyên nơi nào, mà
cũng không vào kinh du, nên gọi là Mậu thích [4].
Hoàng Đế hỏi:
Xin cho biết, vì cớ sao phép mậu thích lại bệnh
ở tả thời thích hữu, bệnh ở hữu thời thích tả... Cùng với phép cự thích, khác
nhau thế nào? [5]
Kỳ Bá :
Tà khách ở kinh, bên tả thịnh thời bên hữu mắc
bệnh, bên hữu thịnh thời bên tả mắc bệnh. Nhưng cũng có khí di dịch. Bên tả đau
chưa khỏi mà mạch bên hữu đã mắc bệnh, như thế, phải dùng phép Cự thích; nhưng
phải thích cho trúng Kinh mạch, chứ không phải Lạc mạch. Cho nên bệnh ở Lạc, cái
sự đau cùng với Kinh mạch khác nhau, nên gọi là Mậu thích (1) [6].
Hoàng Đế hỏi:
Về phép Mậu thích, nên như thế nào
[7]
Kỳ Bá:
Tà “khách” ở lạc Túc Thiếu âm, khiến người bỗng
dưng Tâm thống, bạo trướng, Hung và Hiếp nghẽn đầy, xét ra không có “tích”,
thích ở trước Nhiên cốt cho ra huyết; trong vòng như ăn xong bữa cơm, sẽ khỏi.
Nếu không khỏi, bệnh bên tả, thích bên hữu; bệnh bên hữu, thích bên tả. Bệnh mới
phát sinh, năm ngày sẽ khỏi [8] .
9) Tà khách ở Lạc Thủ Thiếu dương khiến người
Hầu tý, thiệt quyển, miệng ráo, tâm phiền, ngoài cánh tay đau; tay không thể với
lên đầu. Thích ở trên móng ngón tay giữa và ngón vô danh, cách chỗ móng bằng
chiếc là Hẹ (cửu diệp) đều một “Vĩ” (vết, hoặc nóát). Hạng tráng niên, khỏi
ngay; người già một lát sẽ khỏi. Bệnh bên tả, thích bên hữu; bệnh bên hữu, thích
bên tả. Bệnh mới phát, vài ngày khỏi [9].
10) Tà khách ở Lạc Túc quyết âm, khiến người
bỗng dưng Sán thống, bạo thống, thích ở chỗ thịt giáp móng ngón chân cái, mỗi
bên một “Vĩ”. Bệnh nhân là con trai, khỏi ngay, là con gái một lát khỏi. Bệnh
bên tả, thích bên hữu, bệnh bên hữu, thích bên tả [10].
Tà khách ở Lạc Túc Thái dương, khiến người đầu
và cổ đều đau. Thích ở chỗ thịt giáp móng ngón chân út, mỗi bên một “Vĩ”. Bệnh
bên tả, thích bên hữu, bệnh bên hữu thích bên tả. Như xong một bữa ăn sẽ khỏi
[11].
Tà khách ở Lạc Thủ Dương minh, khiến người khí
mãn, trong Hung suyễn và thở gấp, Hiếp, nghẽn, Hung nhiệt, thích ở Quang Xung,
Thiếu Thương ngón tay giữa và ngón vô danh, cách chỗ móng bằng một lá hẹ nằm
ngang, mỗi gón một “Vĩ:”. Bệnh bên tả, thích bên hữu, bệnh bên hữu, thích bên
tả. Như xong bữu ăn sẽ khỏi [12].
Tà khách ở khoảng tý trưởng (cánh tay, bàn tay),
không thể co lại được, thích ở sau Khỏa (sau khủyu tay), trước lấy tay ấn vào,
thấy đau bây giờ mới thích. Lấy nguyệt (mặt trăng) mọc lặn làm số hạn. Trăng mọc
ngày thứ nhất, thích một “Vĩ”, ngày thứ hai (2 vĩ), ngày 15, 15 (vĩ), ngày 16,
14 (võ) (rút đi dần) [13].
Tà khách ở mạch Túc Dương kiểu, khiến người mắt
đau, bắt đầu từ trong đầu mắt trước, thích ở dưới. Ngoại khỏa nửa tấc đều 2
“vĩ”. Bệnh bên tả, thích ở hữu, bệnh bên hữu, thích ở tả. Một lát lâu như đi
được mười dặm, sẽ khỏi [14].
Nếu bị ngã đau, ác huyết lưu ở bên trong, trong
bụng đầy, không đại tiểu được, trước nên cho uống (lợi dược) (thứ thuốc uống cho
lợi đại tiểu). Bệnh đó, do bên trên thời thương đến mạch của Quyết âm, bên dưới
thời thương đến Lạc của Thiếu dương, thích ở dưới tức Nóäi khỏa, phía trước
Nhiên cốc, để cho huyết ở mạch tiết ra. Lại thích ở Động mạch trên mu bàn chân,
vẫn không khỏi, lại thích ở trên Tam mao, đều một “vĩ” thấy nhớm huyết, khỏi
ngay. Bệnh bên tả, thích ở hữu, bệnh bên hữu, thích ở tả. Nếu bệnh nhân hay bị,
kinh, không vui, cũng thích như phương pháp trên [15].
Tà khách ở Lạc của Thủ Dương minh, khiến người
tai điếc, thường không nghe tiếng gì. Thích ở ngón tay cái, ngón tay trở, chỗ
cách móng tay bằng chiếc lá hẹ nằm ngang, đều một “vĩ”. Có thể nghe tiếng ngay.
Nếu không khỏi, thích ở chỗ thịt và móng tay giáp nhau, có thể nghe được ngay.
Nếu bệnh nhân có lúc vẫn nghe được, thời không thể thích. Nếu trong tai ù ù như
gió, cũng thích bấy nhiêu “vĩ”. Bệnh bên tả thích ở hữu, bệnh bên hữu, thích ở
tả [16].
Phàm chứng Tý, lúc ở chỗ này, lúc ở chỗ nọ, đi
lại không có nơi nhất định. Nhận ở ngoài thịt, chỗ nào đau thời thích, lấy mặt
trăng mọc làm hạn. Khi dùng châm, theo khí thịnh suy để tính số “vĩ”. Nếu châm
quá số ngày, sẽ bị thoái khí, nếu không kịp số ngày, tà khí sẽ không tả ra được.
Bệnh bên tả, thích ở hữu, bệnh bên hữu, thích ở tả, bệnh khỏi, thôi không thích
nữa, vẫn chưa khỏi, lại thích đúng như phép theo mặt trăng khi mọc, ngày thứ
một, một “vĩ” ngày thứ hai hai “vĩ”... Rồi nhiều dần lên đến ngày thứ mười lăm
thời mười lăm “vĩ:” qua ngày mười sáu thời mười bốn “vĩ”, rồi lại rút bớt dần
[17].
Tà khách ở kinh mạch Túc Dương minh, khiến người
Cừu nục (máu chảy ra đằng mũi) Răng hàm trên lạnh, thích ở chỗ thịt giáp liền
với móng hai ngón chân giữa và ngón vô danh, đều một “vĩ”. Bệnh bên tả, thích ở
hữu, bệnh bên hữu, thích ở tả [18].
Tà khách ở Lạc của Túc thiếu dương, khiến người
Hiếp (lườn) đau không thể thở, khái mà hãn ra, thích ở chỗ thịt giáp liền với
hai ngón chân vô danh và ngón chân út. Đều một “vĩ”. Về chứng “không thể thở”,
sẽ khỏi ngay, chứng hãn ra cũng chỉ ngay. Còn chứng khái, phải cho mặc áo ấm, và
cho điều dưỡng thêm bằng thức ăn có tính ôn, một ngày sẽ khỏi. Bệnh bên tả,
thích ở hũu, bệnh bên hữu, thích ở tả. Bệnh khỏi ngay. Nếu vẫn không khỏi, lại
thích đúng như phép trước [19].
Tà khách ở Lạc của Túc thiếu âm, khiến người đau
ở cuống họng, không thể nuốt thức ăn, không vì cớ gì mà cũng hay nóä, khí dẫn
ngược lên Bí môn, thích mạch Trung ương ở dưới chân Dũng tuyền 3 “Vĩ” tất cả sáu
lần thích, khỏi ngay. Bệnh bên tả, thích ở hữu, bệnh bên hữu, thích ở tả. Cuống
họng sưng, không nuốt được nước miếng, cũng có lúc không nhổ ra được, thích ở
trước Nhiên cốt, cho xuất huyết, khỏi ngay. Bệnh ở tả, thích bên hữu, bệnh ở
hữu, thích bên tả [20].
Tà khách ở Lạc của Túc Thái âm, khiến người yêu
thống, rút xuống, Thiếu phúc, đau ra cả sườn, không thể nằm ngửa, thích giải
huyết khoảng yêu và cầu cốt, và trên hai “thăn” (thịt giáp xương sống) đó là yêu
du. Lấy mặt trăng mọc lặn làm số “vĩ” rút chậm khỏi ngay. Bệnh bên tả, thích ở
hữu, bệnh bên hữu, thích ở tả [21].
Tà khách ở Lạc của Túc Thái dương, khiến người
co rút, lưng gò đau rút xuống hiếp. Thích từ cổ trước, đếm từng đốt xương sống,
vừa đếm nhanh, vừa ấn tay mạnh, gặp chõ nào đau, thích ngay, ba “vĩ” khỏi ngay
[22].
Tà khách ở Lạc của Túc Thiếu dương, khiến người
đau nhức ở Khu trung (tức hai huyệt Hoàn khiếu ở đùi), không thể cất đùi lên
được. Dùng “Hào” (tên một thứ châm) để châm. Nếu bệnh hàn, thời để châm lâu.
Theo mặt trăng mọc lặn làm số “vĩ”, sẽ khỏi ngay [23].
Điều trị các Kính biệt, nếu chỗ tà khí đi qua mà
không bệnh, thời dùng phép mậu thích (1) [24].
Tai điếc, thích ở Thủ Dương minh, không khỏi,
nên thích ở Thông mạch. mạch này ở phía trước tai. Thính hội [25].
Răng đau nhức, thích ở Thủ Dương minh, không
khỏi thích vào (cái mạch dẫn vào trong răng), ở khe răng, sẽ khỏi ngay
[26].
Tà khách ở khoảng 5 Tàng, khi phát bệnh, đau rút
ở trong mạch, lúc đau, lúc đỡ, nhận kỹ bệnh, rồi dùng phép Mậu thích. Thông nhị
tĩnh huyệt. Trông kỹ và thích ở Mạch tại các đầu móng chân và móng tay, cho ra
huyết. Cách ngày một lần thích. Thích một lần không khỏi thích năm lần
[27].
Cái tà của Thủ Dương minh do sự “mậu truyền”
(tức dẫn nhầm) mà dẫn lên răng (thuộc Túc Dương minh); răng và môi lạnh và đau.
Trên mạch ở trên mu tay có huyết sắc hiện lên, thời thích bỏ đi, lại thích dưới
móng ngón tay giữa thuộc về mạch Thương dương của Túc dương minh, đều một “vĩ”,
khỏi ngay. Bệnh nhân tả thích ở bên hữu, bệnh bên hữu, thích ở bên tả
[28].
Tà khách ở lại cả Thủ, Túc Thái âm Thiếu âm và
Túc Dương minh. Năm lạc đó, đều hội họp ở trong tai, trên chằng lên “tả giác”.
Vì tà khách ở Lạc nên 5 lạc đều kiệt, khiến cách mạch ở thân thể đều động,
người đờ ra như “thây” không biết gì...Hoặc gọi là Thi quyết. Thích ở cạnh bên
trong ngón chân cái, phía trên móng, Aàn bạch cách móng vằng cái lá hẹ nằm
ngang, rồi thích ở Túc tâm, thích phía trên ngón chân giữa, đều một “Vĩ”, sau
lại thích cạnh bên Lệ đài trong ngón tay cái, cách móng tay bằng một cái lá hẹ
nằm ngang, sau lại thích đầu Nhuệ cốt thuộc Thủ Tâm chủ Thiếu âm, đều một “Vĩ”,
khỏi ngay, nếu không khỏi, gọt bỏ chỗ tóc ở tả giác, vuông bằng một tấc, đốt lấy
than, hòa vào một chén rượu ngon, cho uống. Người không biết uống cũng cố uống,
khỏi ngay [29].
30) Phàm cái số thích, trước phải nhận ở Kinh
mạch, án tay dò xem, xét rõ hư thực để điều trị. Nếu khí huyết không điều thích
vào kinh mạch, nếu có nơi đau mà kinh mạch không mắc bệnh, dùng phép Mậu thích.
Lại trong ở bì bộ của huyết lạc hiện lên, đều phải thích cả. Đó là phương pháp
Mậu tích [30].
Thiên sáu mươi tư: TỨ THỜI THÍCH NGHỊCH TÙNG
LUẬN
Quyết âm hữu dư, thời mắc bệnh Aâm tý, bất túc,
thời mắc bệnh Nhiệt tý, Hoạt, thời mắc bệnh Hồ sán phong; sắc, thời mắc bệnh
Thiếu phúc tích khí (1) [1] .
Thiếu âm hữu dư, mắc bệnh Tý, và ẩn chuẩn (mọc
nóát như sởi); bất túc, mắc chứng Phế tý. Hoạt thời mắc bệnh Phế phong sán, sắc,
thời mắc bệnh tích, và tiểu ra huyết [2].
3 Thái âm hữu dư, mắc bệnh Nhục tý và hàn trung,
bất túc, thời mắc bệnh Tỳ tý. Hoạt thời mắc bệnh Tý, Phong sán, sắc, thời mắc
bệnh tích, Tâm phúc bị [3].
4) Dương minh hữu dư, mắc bệnh mạch tý, mình
thường nóng. Bất túc, mắc bệnh Tâm tý, hoạt thời mắc bệnh Tâm phong sán, sắc,
thời mắc bệnh tích, thỉnh thoảng hay kinh [4].
5) Thái dương hữu dư, mắc bệnh cốt tý, mình
nặng, bất túc, mắc bệnh thận tý, hoạt thời mắc bệnh Thận phong sán, sắc thời mắc
bệnh tích, thỉnh thoảng phát chứng điên [5].
6) Thiếu dương hữu dư, ắc bệnh Cân tý, hiếp mãn,
bất túc, mắc bệnh Cân tý. Hoạt, thời mắc bệnh Can phong sán, sắc thời bệnh tích,
thỉnh thoảng gân rút, và đau mắt (1) [6].
Aáy cho nên: khí mùa Xuân ở Kinh mạch, khí mùa
Hạ ở Tôn lạc, khí mùa Trường hạ ở Cơ nhục, khí mùa Thu ở Bì phu, khí mùa Đông ở
trong Cốt tủy [7].
Hoàng Đế hỏi:
Xin cho biết nguyên nhân ra làm sao?
[8]
Mùa Xuân, là thời kỳ khí trời mới mở ra, khí
đất mới phát tiết, váng mỡ, giá tan, thủy lưu hành, kinh thông lợi. Cho nên khi
người ở trong mạch. Mùa Hạ, kinh đầy, khí ràn, vào Tôn lạc để tiếp nhận lấy
huyết, bì phu do đó được đầy dặc, mùa Trường hạ kinh lạc đều thịnh, do bên trong
tiết vào cơ nhục, mùa Thu, khí trời mới thâu lễm, tấy lý vít lấp, bì phu khô
dẳng, mùa Đông che giấp huyết khí ở bên trong, bám liền vào cốt tủy, để lại giao
thông với 5 Tàng (1) [9].
Vậy nên, tà khí thường theo khí huyết của con
người ở bốn mùa để thừa cơ vào “Khách”. Nhưng đến sự biến hóa thời thật khó mà
đo lường. Dù sao cũng phải thuận theo ở Kinh khí để dùng phép thích, nếu tích
trừ được tà khí, thời loạn khí sẽ không sinh ra được.
Hoàng Đế hỏi:
Thích trái với bốn mùa, mà sinh loạn khí, bệnh
trạng như thế nào? [11]
Kỳ Bá thưa rằng:
Mùa Xuân mà thích ở Lạc mạch (xuân khí ở Kinh
mạch, mà thích Lạc mạch, là trái), huyết khí sẽ ràn ra ngoài, khiến người thiểu
khí, mùa xuân mà thích ở cơ nhhục, huyết khi sẽ vòng đi ngược, khiến người
thượng khí, mùa xuân, mùa Xuân mà thích ở Cân cốt, huyết khí sẽ bám vào trong,
khiến người phúc trướng [12].
Mùa Hạ mà thích ở Kinh mạch (mùa Hạ huyết khí
đã ra ngoài Tôn lạc), huyết khí sẽ bị kiệt, khiến người rã rời, mùa Hạ mà thích
ở Cơ nhục, huyết khí sẽ lộn vào trong, khiến người hay khủng, mùa Hạ mà thích ở
cân cốt, huyết khí sẽ nghịch lên, khiến người hay nóä [13].
Mùa thu mà thích ở Kinh mạch, huyết khí sẽ
ngược lên, khiến người hay quên, mùa Thu thích ở Lạc mạch, khiến khí không dẫn
được ra bên ngoài, khiến người nằm không muốn cựa, mùa Thu mà thích ở cân cốt,
huyết khí sẽ tan rã ở bên trong, khiến người rét run [14].
Mùa Đông mà thích ở Kinh mạch, huyết khí sẽ đều
thoát, khiến người mắt trông không tỏ, mùa Đông mà thích ở Lạc mạch khí bên
trong sẽ tiết ra bên ngoài, lưu thành chứng đại tý, mùa Đông mà thích ở cơ nhục,
dương khí sẽ kiệt tuyệt, khiến người hay quên [15].
Phàm sự thích về bốn mùa đó, đều gây nên bệnh
lớn, không thể theo [16].
Vậy về phép thích, không biết kinh mạch của bốn
mùa, bệnh sẽ sinh ra, nếp lấy thuận làm nghịch, chính khí sẽ loạn ở bên trong,
tà khí và tinh khí sẽ cùng xung đột nhau. Vậy, tất phải xét rõ chín hậu, khiến
cho chính khí không loạn, thời tinh khí mới không nghịch chuyển mà gây nên bệnh
loạn [17].
Hoàng Đế nói:
Thích vào năm Tàng, nếu trúng Tâm, thời một ngày
chết, khi mới phát bệnh sẽ là chứng “ợ” trúng Can thời năm ngày chết, khi mới
phát bệnh sẽ là chứng muốn nói luôn miệng, trúng Phế thời ba ngày sẽ chết, khi
mới phát bệnh sẽ là chứng ho, trúng Thận sáu ngày chết, khi mới phát, sẽ là
chứng hắt hơi và vươn vai trúng Tỳ, mười ngày chết, khi mới phát sẽ là chứng
thốn (nuốt nước miếng). Thích làm thương đến năm Tàng, tất phải chết, mà các
bệnh lúc mới phát ra đều theo tính các bả tàng. Nhân đó có thể biết được là bao
giờ chết [18].
Thiên sáu mươi lăm: TIÊU BẢN LUẬN
Hoàng Đế hỏi:
Bệnh có tiêu (ngọn), bản (gốc), thích có nghịch
có tùng (thuận), nghĩa đó như thế nào? [1]
Kỳ Bá thưa rằng:
Về phương pháp thích, phải phân biệt âm dương,
trước sau cùng ứng, nghịch tùng đều hợp, tieuâ bản cùng thay đổi (1)
[2].
Cho nên nói rằng: có khi ở tiêu, mà cầu nó ở
tiêu, có khi ở bản, mà cầu nó ở bản, có khi ở bản mà cầu nó ở tiêu, có khi ở
tiêu mà cầu nó ở bản [3].
Cho nên về phương pháp điều trị, có khi lấy ở
tiêu mà được, có khi lấy ở bản mà được, có khi nghịch thủ mà được, có khi tùng
thủ mà được [4].
Vậy nếu biết nghịch với tùng đó là chính pháp
không còn gì hơn, biết được tiêu bản muôn làm muôn đứng, không biết tiêu bản,
làm càn ra chi...(2). [5]
Nói về cái đạo âm dương, nghịch tùng, và tiêu
bản... mới nghe nhỏ, mà sau thật lớn, nói một điều mà biết được cái hại của trăm
bệnh [6].
Ít mà là nhiều, nóâng mà là sâu, có thể nói một
mà biết được trăm [7].
Do nóâng mà biết được sâu, xét gần mà biết được
xa. Nói tiêu với bản, không nên tương phản [8].
Trị “phản” là nghịch, trị “đắc” là tùng (1).
Trước mắc bệnh mà sau nghịch, trị ở bản; trước nghịch mà sau mắc bệnh, trị ở bản
2 [9]. Trước hàn mà sau sinh bệnh, trị ở bản, trước mắc bệnh mà sau sinh hàn,
trị ở bản 3 [10]. Trước nhiệt mà sau mắc bệnh, trị ở bản, trước nhiệt mà sau
xin trung mãn, trị ở tiêu (4) [11]. Trước mắc bệnh mà sau tiết tả, trị ở bản,
trước tiết tả mà sau thêm bệnh khác, trị ở bản, hãy điều hòa trước đã, rồi hãy
trị bệnh khác (5) [12]. Trước mắc bệnh mà sau sinh chứng phiền tâm, trị ở bản.
Bởi ở trong thân thể con người, có khách khí, lại có đồng khí (6) [13]. Tiểu,
đại không lợi, trị ở tiểu, tiểu, đại lợi, trị ở bản (7) [14]. Bệnh phát sinh mà
hữu dư, bản mà là tiêu, trước hãy trị bản, rồi mới trị tiêu bệnh phát sinh mà
bất túc, tiêu mà là bản, trước hãy trị tiêu, rồi mới trị bản (8) [15]. Cẩn thận
xét xem “gian” hay “Thậm”, lấy ý của mình để điều trị. Nếu “gian” thời tính
hành, “thậm” thời độc hành. Tỉ như: trước tiểu, đại không lợi, mà rồi mới sinh
bệnh khác, phải trị ở bản (9) [16].
Bệnh có tương truyền, tỉ như Tâm bệnh, trước Tâm
thống qua một ngày thời phát chứng Khái, qua ba ngày Hiếp chi thống: qua năm
ngày vít lấp không thông, thân đau mình nặng, qua ba ngày, không khỏi, sẽ chết.
Mùa Đông chết về nửa đêm, mùa Hạ chết về đúng trưa (1). [17]
Bệnh ở Phế, suyễn khái, qua ba ngày mà hiếp chi
mãn và thống, lại qua một ngày mà thân nặng mình đau, lại qua năm ngày mà
trướng. Lại qua mười ngày, không khỏi, sẽ chết. Mùa Đông chết về lúc mặt trời
lặn, mùa hạ chết về lúc mặt trời mọc (1). [18]
Bệnh ở Can, đầu váng mắt hoa, Hiếp chi mãn, qua
ba ngày, mình nặng, thân đau, qua năm ngày, sẽ phát trướng, lại qua ba ngày,
yêu, tích và thiếu phúc đau, ống chân nhức, lại qua ba ngày không khỏi, sẽ chết.
Mùa Đông chết về lúc mặt trời lặn, mùa Hạ chết về sáng sớm (1) [19].
Bệnh ở Tỳ, thân đau, mình nặng. Qua một ngày mà
Trướng, qua hai ngày, thiếu phúc, yêu, tích đau, xương ống chân nhức, qua ba
ngày, bối, lữ và cân thống, tiểu tiện bế, qua mười ngày, không khỏi, sẽ chết.
Mùa Đông, chết về lúc người đi ngủ yên; mùa Hạ, chết về lúc nửa buổi (1)
[20].
Bệnh ở Thận, Thiếu phúc và yêu, tích thống,
xương ống chân, rức, qua ba ngày, bối, lữ, cân thống, tiểu tiện bế, qua ba ngày,
phúc trướng, qua ba ngày lưỡng hiếp chỉ thống, lại qua ba ngày, không khỏi, sẽ
chết Mùa Đông, chết về lúc sáng rõ, mùa Hạ, chết về lúc tối đã lâu (1)
[21].
Bệnh ở Vị, trướng mãn, qua năm ngày, thiếu phúc
và yêu tích thống, xương ống chân nhức; qua ba ngày, bối, lữ, cân thống, tiểu
tiện bế, qua năm ngày thân thể nặng nề, qua sáu ngày, không khỏi, sẽ chết. Mùa
đông chết về nửa đêm, mùa Hạ chết về xế chiều (1) [22].
Bệnh ở Bàng quang, tiểu tiện bế; qua 5 ngày,
Thiếu phúc trướng, yêu tích thống, xương ống chân nhức, qua một ngày, phúc
trướng, lại qua một ngày thân thể thống, lại qua hai ngày, không khỏi, sẽ chết.
Mùa Đông, chết về gà gáy, mùa Hạ, chết về chiều tà (1) [23].
Các bệnh ở trên do sự “thắng, khắc” mà truyền
đều có cái trường hợp chóng chết, dù có phép thích cũng không sao cứu chữa được.
Hoặc tương truyền đến cách một Tàng, thời thôi, không truyền sang Tàng khác
nữa, như thế mới có thể thích. Tỉ như: Tâm bệnh truyền Can, Can bệnh truyền tỳ,
đó là con đi lấn mẹ... Đến Can Tàng, Tỳ Tàng thời thôi, không lại do sự “thắng,
khắc” để truyền sang Tàng khác. Như thế mới có thể dùng phép thích. Lại tỉ như:
Tâm bệnh truyền Tỳ, Phế bệnh truyền Thận, đó là mẹ đi lấn con, nhờ được cái sinh
khí của mẫu tàng, còn là chứng không đến nóãi chết. Lại như Tâm bệnh truyền
Thận, Phế bệnh truyền tâm, Can tàng truyền Phế v.v... Đó là do nơi “sở bất
thắng” mà lại, bệnh nhẹ, cũng có thể dùng phép thích [24].
Thiên sáu mươi sáu: THIÊN NGUYÊN KỶ ĐẠI LUẬN
Hoàng Đế hỏi rằng:
Trời có năm hành, trị năm vị, để sinh ra hàn,
thử, táo, thấp và phong (1) Người có năm Tàng, hóa sinh năm khí, để sinh ra hỷ,
nóä, ưu, tư, khủng (2). Trên Luận nói: năm vận cùng nóái, đều có chủ trị; cứ
chọn một năm, “chu” mà lại bắt đầu... Tôi đã hiểu lẽ đó rồi. Xin cho biết cái
“hậu” của tam âm, tam dương, tương hợp như thế nào (3)? [1]
1) Năm hành của trời tức là năm khí: Đan là đỏ,
Kiềm là vàng. Thương là xanh, Tố là trắng, Huyền là đen, Năm vị, tức là vị của
năm phương, mà cũng tức là năm hành của đất. Hàn, thử, táo, thấp, phong tức là 6
khi của trời. Ý đây nói: năm khí của trời, hợp với sự phối hợp của mười Can, để
hóa sinh ra năm hành của đất, năm hành của đất lại sinh ra 6 khi của
trời.
2) Năm Tàng, tức là do năm hành sinh ra. Khí của
năm hành tức là: phong, nhiệt, thấp, táp, hàn. Hỳ nóä, ưu, tư, khủng là “thần
chí” của năm Tàng.
Ngẫm như: ở giờ là khi, ở đất thành hình, hình
khi cùng cảm mà muôn vật hóa sinh. Con người nhờ năm hành của đất để gây nên
thân hình... Do cái năm Tàng có hình để hóa sinh ra năm khí và năm chí... Mà lại
thông với thiên khí.
3) “Trên luận”, tức là nói những bài Lục tiết
Tàng tượng v.v... Năm vận là: Năm Giáp, Kỷ thuộc về Thổ vận, năm Aát, Canh thuộc
về Kim vận, năm Bính, Tân thuộc về Thủy vận, năm Đinh Nhâm thuộc về Mộc vận, năm
Mậu, Quý thuộc về hỏa vận. Về tam âm, tam dương thời, hai năm Tý Ngọ, Thiếu âm
làm chủ, hai năm Sửu, Vị (Mùi), Thái âm làm chủ, hai năm Dần, Thân, Thiếu dương
làm chủ, hai năm Mão, Dậu, Dương minh làm chủ, hai năm Thìn, Tuất, Thái dương
làm chủ, hai năm Tỵ, Hợi, quyết âm làm chủ.
Quỷ Du Khu vái tay, cúi đầu mà thưa
rằng:
Năm vận, âm dương là đạo của trời. Nó là cương
kỷ của muôn vật, cha mẹ của biến hóa, gốc ngọn của sinh sát, và là cái “phủ” của
một sự thần minh đó (1) [2].
Vật sinh ra gọi là hóa, vật đến gọi là biến, âm
dương khôn lường, gọi là thần; thần dụng vô phương gọi là thánh (2)
[3].
Cái công dụng của sự biến hóa, ở trời gọi là
huyền (1), ở người gọi là đạo (2), ở đất gọi là hóa (3). Do đó hóa sinh ra năm
vị (4). Đạo sinh ra trí (5). Huyền sinh ra thần (6).
Thần ở trời là phong, ở đất là mộc, ở trời là
nhiệt, ở đất là hỏa, ở trời là thấp, ở đất là thổ, ở trời là táo, ở đất là kim,
ở trời là hàn, ở đất là thủy. Cho nên ở trời là khí, ở đất thành hình. Hình, khi
cùng cảm, muôn vật do đó mà sinh ra (1) [5].
Vậy nên, trời đất đó là trên dưới của muôn vật,
tả hữu đó là đường lối của âm dương (2), thủy hỏa đó là triệu chứng của khí âm
dương (3); Kim, mộc đó là chung thủy của sự sinh thành (4).
Khí có nhiều, ít, hình có thịnh suy. Do sự trên
dưới cùng cảm triệu, mà cái khí thái quá hay bất cập càng được rõ
ràng.
Hoàng Đế hỏi:
Xin cho biết năm vận chủ thời, như thế nào? (1)
[8].
Qủy Du Khu thưa rằng:
- Năm khí vận hành, đều chọn cơ nhật (2), không
những chủ thời mà thôi [9].
Xin cho biết rõ..
[10].
Thần xét trong Đại thủy Thiên
nguyệt Sách văn chép rằng: “Thái hư rộng thẳm, gây nên hóa nguyện, muôn vật gây
lúc đầu năm vận chọn chu thiên (3); khí tán ra chân linh, tổng thống cả Khôn
nguyên (4); chín sao treo sáng, bảy Diệu vòng quanh (5) rằng âm, rằng dương,
rằng như, rằng cương (6); u hiển đã xếp hàn, thử, thỉ, trương (7); sinh sinh,
hóa hóa, phẩm vật phô bày (8)... Đạo lý đó, truyền tới thần, đã mười đời
nay...
Hoàng Đế hỏi:
- Khí có nhiều ít, hình có thịnh
suy, là thế nào? [12].
Qủy Du Khu thưa
rằng:
Khí của âm, dương, có kinh nhiều,
có kinh ít, nên gọi là tâm âm, tam dương. “Hình có thịnh suy” là nói về chủ trị
của năm hành có thái quá và bất cập (1). Cho nên lúc bắt đầu; do hữu dư mà đi,
bất cập sẽ theo; do bất túc mà đi, hữu dư sẽ theo. Biết được nghinh (tức đi) và
tùy (tức theo), thời cái khi thái quá hay bất cập có thể dự biết được (2)
[13].
Ưùng với trời là Thiên phù, ứng
với năm là Tuế trị; “Tam hợp’ sẽ trị (3) [14].
Hoàng Đế hỏi:
Trên dưới cùng cảm triệu, là nghĩa
thế nào? [15]
Quỷ Du Khu thưa rằng:
- Hàn, thử, táo, thấp, phong, hỏa... Thuộc về
Aâm Dương của trời. Tam âm, tam dương, thượng phụng (như ứng theo) với nó. Mộc,
Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, Hỏa... Thuộc về Aâm Dương của đất, sinh, trưởng, hóa, thâu,
tàng ứng theo với nó (1) [16].
Trời có Aâm Dương để sinh, khí Aâm để trưởng,
đất lấy khí Dương để sái (giảm bớt), khí Aâm để tàng (2) [17].
Trời có Aâm Dương, đất cũng có Aâm Dương, Mộc,
Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, Hỏa... Đó là Aâm Dương của đất, chủ về sinh, trưởng hóa,
thâu, tàng. Cho nên trong Dương có Aâm, trong Aâm có Dương (3) [18].
Vì vậy, muốn biết Aâm Dương của trời đất, ứng
với khí của trời, động mà không ngừng, cho nên cứ hết 5 năm thời “hữu thiên”;
ứng với khí của đất, tĩnh mà giữ vị, cho nên cứ hết sáu năm lại hoàn hội (4)
[19].
Động, tĩnh cùng triệu, trên dưới cùng là, Aâm
Dương cùng thay đổi, sự biến hóa do đó mà sinh ra (5) [20].
Hoàng Đế hỏi:
Trên, dưới, chu, kỷ, có số nhất định chăng ?
[21]
Qủy Du Khu thưa rằng:
Trời lấy số “sáu” làm tiết, đất lấy số “năm” làm
chết. Chu thiên khí thời cứ 6 năm là một lượt chung địa kỷ thời cứ 5 năm là một
chu. Do đó, quân hỏa được sáng tỏ, tướng hỏa được yên ngôi (1) [22].
“Năm” với “sáu” cùng hợp, vậy nên cứ 720 khí làm
một kỷ. Phàm 30 năm, cộng được 1440 khí. Tức 60 năm là một “chu” Bất cập hay
thái quá, đều do đó có thể thấy rõ được (2) [23].
Hoàng Đế hỏi:
Theo lời nói của phu tử, trên rõ hết thiên khí,
dưới rõ hết địa kỷ, thật là đầy đủ. Nhưng tôi muốn nhờ đó trước để trị dân, rồi
đến trị thân, khiến trăm họ hiểu biết, trên dưới cùng thân, đức trạch thấm
nhuần, con cháu hết lo, truyền mãi về sau không bao giờ cùng... Vậy xin cho biết
thêm… [24]
Qủy Du Khu nói:
Cái định số của sự thái quá hay
bất cập, rất là cơ vi. Nhưng khí tới có thể nhận thấy, khí đi có thể theo dõi.
Vậy phải kính cẩn, không được coi thường, nếu trái lẽ đó, sẽ bị tai ương…
[25]
Hoàng Đế nói:
- Khéo nói về trước, tất hiểu sau,
đã hiểu nơi gần, tất rõ chỗ xa. Chí số tế vi đến thế mà suy diễn không nhẩm,
thật là minh triết lắm rồi. Vậy xin phu tử giảng giải cho có điều lý, giảm ước
mà không thiếu, dễ dàng mà khó quên... [26]
Qủy Du Khu nói:
Tôi được nghe, về năm Giáp, Kỷ,
Thổ vận làm chủ, về năm Aát, Canh, Kim vận làm chủ, về năm Bính, Tân, Thủy vận
làm chủ, về năm Đinh Nhâm, Mộc vận làm chủ; về năm Mậu Qúi, Hỏa vận làm chủ..
[27].
Hợp với tam âm, tam dương như thế
nào? [28]
Về năm, Tý, Ngọ, trên thấy Thiếu
âm, về năm Sửu, Vị (Mùi) trên thấy Thái âm, về năm Dần, Thân, trên thấy Thiếu
dương về năm Mão, Dậu trên thấy Dương minh, về năm Thìn, Tuất trên thấy Thái
dương, về năm Tỵ, Hợi, trên thấy quyết âm... Vậy Thiếu âm đó là Tiêu, mà quyết
âm đó là Chung (cuối cùng) (1) [29].
Ở trên quyết âm, phong khí làm
chủ, ở trên Thiếu âm, nhiệt khí làm chủ, ở trên Thái âm, thấp khí làm chủ, ở
trên Thiếu dương, Tướng hỏa làm chủ, ở trên Dương minh, táo khí làm chủ, ở trên
Thái dương, hàn khí làm chủ. Đó tức là Bản và gọi là “lục nguyên” (2)
[30].
Hoàng Đế nói:
Đạo rất huyền ảo, bàn rất rõ ràng,
xin ghi vào Ngọc bản, cất vào Kim qũi và đặt tên là: Thiên Nguyên
kỷ.